510 469
Ngày đăng: 09:28:46 31-08-2014-- Lượt xem: 8718.
Kích cỡ chữ: Giảm - Tăng

Đạo đức người xuất gia - Chương 3 và 4

Đạo đức người xuất gia - Chương 3 và 4: Giác ngộ được rằng mình đã xa rời bậc thánh hiền là một hành động sai lầm, chấp nhận sự thống mạ mà vẫn không thối tâm, có thể nói đó là người minh trí và lại thành kính nữa; sau lại được quốc sư Huệ Trung coi trọng và truyền cho tâm pháp cũng vì Ngài là người minh trí và thành kính vậy
       
Đại sư Liên TrìĐẠO ĐỨC NGƯỜI XUẤT GIA
Chương III
Đại sư Liên Trì

Người dịch: Thích Nguyên Hùng
Xem lại Chương 1
Xem lại Chương 2
---------------------------------------------
  • HẠNH TÔN SƯ
  •  3.1. Nỗ lực làm ruộng, nhà
    Đời nhà Tấn, ở Trường An, chùa Ngũ Cấp, có pháp sư Đạo An, mười hai tuổi xuất gia. Sư trời sanh bẩm tánh thông minh, nhưng ngoại hình rất xấu, nên không được sư phụ coi trọng, gọi sư làm những việc ruộng đồng, làm như vậy được ba năm. Chấp  lao cần khổ, chưa từng biểu hiện thái độ oán hận. Sau mấy năm, mới đi tìm sư phụ muốn cầu thụ kinh điển. Sư phụ đưa cho sư một quyển kinh Biện Ý có hơn 5 ngàn câu chữ. An đại sư  mang cuốn kinh này đi ra ruộng, lúc nghỉ ngơi mang kinh ra đọc, đến tối mới trở về, lại xin sư phụ truyền cho kinh điển khác, sư phụ nói: “Hôm qua mới đưa cho thầy cuốn kinh đã học xong chưa lại xin học cuốn kinh khác!”. Ngài trả lời: “Dạ, con đã đọc thuộc kinh rồi!”. Sư phụ tuy rằng rất kinh ngạc nhưng vẫn chưa tin lắm, lại đưa cho ngài một cuốn kinh Thành Cụ Quang Minh, cuốn kinh này gần một vạn câu chữ. An đại sư lại mang kinh đi ra đồng, hoàng hôn lại mang kinh trở về, sư  phụ bảo ngài tụng lại, ngài tụng không sai một chữ, sư phụ mới vô cùng kinh hãi, hết lời khen ngợi.
     Bình luận:
     Thiên tài của An đại sư giống như bảo ngọc trong cung điện của tổ tông hoặc thánh hiền để lễ lạy, vậy mà bảo ngài đi cày ruộng, nhưng ngài vẫn cam chịu lao khổ không than oán. Các đệ tử ngày nay, có được một chút tài năng, đối sử với nó một chút không khách khí là muốn bỏ đi, huống nữa là gọi nó đi làm những việc ruộng đồng cần lao phục dịch? Mà là lao động phục dịch lâu ngày nữa chứ?! Nghĩ đến đây, tôi không cầm được lời than thở không thôi!.
      3.2. Tự đánh trách mình
      Triều nhà Tấn, tại Kinh Châu, chùa Trường Sa, Thiền sư  Pháp Ngộ, lạy Thiền sư Đạo An làm thầy, sau đó trú trì chùa Trường Sa, ở Giang Lăng, diễn giảng nhiều kinh, có hơn bốn trăm người đến học Phật với ngài.
       Có một hôm, một vị Tăng trong chùa lén uống rượu, đại sư Pháp Ngộ tiến hành sử phạt, nhưng chưa đánh thì vị Tăng ấy chạy vụt ra cửa. Đại sư Đạo An ở xa nghe chuyện này, dùng một ống tre lắp đặt một cây roi trong đó rồi phong bao lại gởi đi cho đại sư Ngộ. Đại sư Ngộ mở phong ra thấy một cây roi, liền nói:
    “Đây là do cái chuyện ông thầy uống rượu mà ra, ta không đủ năng lực dạy dỗ và lãnh đạo, phải khiến cho sư phụ ở xa lo lắng mà ban cho ta cây roi này!”.
    Thế rồi sư đánh kiềng chuỳ triệu tập đại chúng lại. Đại sư Ngộ đem cây roi ra đặt trước mặt, đốt hương đảnh lễ chí kính, tự  mình nằm xuống trên đất, sai thầy duy na cầm roi đánh mình ba roi, sư rơi nước mắt tự trách. Một lần như thế, Tăng tục ở địa phương đó không ai là không khen ngợi và bội phục, nhân vì sự việc này mà mọi người cảm kích phấn phát tinh tấn cũng rất nhiều. 
      Bình luận:
      Ôi! Giả sử người hiện nay mở phong bao ống tre của sư phụ gởi ra, thấy một cây roi, mà không đập vở ống tre, chặt đứt cây roi, mở lời chửi rủa sợ rằng còn rất ít. Còn như sư phụ là thánh nhân, đệ tử là hiền nhân đây, tuy thời gian đã quá hơn ngàn năm đến nay, tôi vẫn tiếp tục vì hai đại sư đây làm mãi vẫn không thể than nhiều!
            3.3. Vì thầy lễ Phật sám hối
    Triều nhà Tấn, ở Thế Thanh Sơn Trúc, có pháp sư Pháp Khoáng, người họ Phi, sớm mồ côi cha mẹ từ thuở ấu thơ, phụng thờ kế mẫu rất hiếu thuận và có tiếng tăm hiếu thuận.
    Sau xuất gia, bái pháp sư Đàm Ấn làm thầy. Có một lần Ấn pháp sư bịnh rất nặng, rất nguy hiểm, thế là Khoáng đại sư 7 ngày 7 đêm, thành kính lễ Phật sám hối hồi hướng cho sư phụ. Đến ngày thứ 7, hốt nhiên thấy hào quang năm sắc chiếu sáng khắp phòng đại sư Đàm Ấn, Ấn đại sư tỉnh dậy thấy có một người dùng tay xoa đến thân thể của mình, thế là ngay sau đó lành bệnh.
      3.4. Tuyết ngập quá gối
     Triều đại nhà Lương (502-255), Tổ Bồ Đề Đạt Ma từ  Ấn Độ sang, lúc đầu yết kiến vua Lương Vũ Đế, nhưng thấy không độ được vị vua này nên sang đất Ngụy.
     Triều nhà Ngụy (534-550), (thuộc bắc Triều), đại sư Thần Quang (Huệ Khả), ở huyện Nghiệp Trung, đương thời là một người đứng đầu trong giới học vấn, giải nghĩa.
     Bồ Đề Đạt Ma từ  Ấn Độ sang, đến đất Nguỵ, ở ẩn trên Thiếu Lâm, động Thiếu Thất, sư Thần Quang đến động Thiếu Thất muốn bái sư làm thầy, Đạt Ma ngồi quay đầu vào vách không nói một lời. Cả một ngày một đêm tuyết rơi lớn, Thần Quang đứng trầm mình trong tuyết lạnh giữa sân, tuyết rơi đầm đìa chôn vùi ông đến đầu gối, Đạt Ma mới quay đầu lại hỏi : “Ông đứng trầm mình trong tuyết lâu như vậy, muốn cần gì?”.
    Thần Quang rơi lệ thưa: “Ngưỡng mong Hòa thượng từ bi mở cửa cam lồ, rộng độ chúng sanh”
    Đạt Ma nói “Diệu pháp vô thượng của chư Phật phải nhiều kiếp tinh cần, khó làm làm được, khó nhẫn nhẫn được, hạng tu tập như ông có thể tu chứng được sao? Hôm nay ông đem lòng khinh mạn, dò hỏi muốn cầu chân đế Phật pháp, quả là làm mộng, lao khổ vô ích”.
    Thần Quang nghe quở vậy, vì muốn biểu thị quyết tâm cầu pháp không sợ lao nhọc bản thân, liền lấy dao chặt đứt cánh tay trái đặt trước mặt Đạt Ma.
    Đạt Ma nói : “Chư Phật lúc cầu đạo đều vì pháp quên thân, hôm nay ông chặt đứt một cánh tay cũng có thể cầu pháp được rồi”.
    Thần Quang thưa: “Tâm con không được an, xin thầy an tâm cho con”.
    Đạt Ma nói: “Ngươi đem tâm ra đây ta an cho”
    Thần Quang nói : “Con tìm tâm mãi mà không thấy”
    Đạt Ma nói : “Vậy ta đã an tâm cho người rồi đó!”
    Ngay câu nói ấy Thần Quang bừng ngộ, tâm pháp thiền môn truyền cho ngài, trở thành tổ thứ 2 thiền tông Trung Quốc.
    Bình luận:
    Nhị tổ Thần Quang được truyền tâm pháp là do lòng tinh cần đã đến cực độ, cơ duyên đã chín muồi. Có như đá nam châm hút sắt, hổ phách nhặt hạt cải, một cái vỗ tay, một cái đánh tức là khế hợp, một chút tức đã tinh thông. Không nhất định phải chặt tay. Người ngu si muốn bắt chước sư Thần Quang, không biết học tinh thần của Ngài, chỉ bắt chước cầm dao chặt đứt thân thể. Ôi! Nếu như truyền pháp nhất định phải chặt tay, như vậy thì lịch đại chư vị tổ sư thân thể đều không nguyên vẹn, mỗi mỗi tàn phế; muốn thành Phật tất phải thiêu thân thể, như vậy thì tiên thánh, tiên hiền chẳng có ai còn mạng sống. Thật ra, chặt tay là chặt tay phiền não, thiêu thân là thiêu thân vô minh! Hi vọng người muốn tu tập thiền nên giúp đỡ nhau, để cổ vũ nhau như vậy.
    3.5. Xa thầy tự trách mình
    Đời nhà Đường, ở Tương Châu, chùa Biện Giác, có pháp sư Thanh Giang.
    Pháp sư Thanh Giang từ nhỏ đã lãnh ngộ chân lý cuộc đời là huyễn mộng, như bọt nước, như ánh chớp, tất cả các pháp đều vô thường, nên đến yết bái luật sư Đàm Nhất làm thầy, thân cận gần gũi theo luật sư Đàm Nhất, đọc kinh học pháp một lần qua mắt là hiểu rõ. Ngài Minh Nhãn nói : “Vị Tăng này là con ngựa thiên lý của Phật pháp”. Có một thời gian, ngài với sư phụ Đàm Nhất nhân duyên không hợp, thế là ngài đành xa sư phụ đi hành cước tham học các nơi, đi đến đâu đều mở pháp hội giảng kinh. Sau đó, ngài tự trách mình, nói : “Hầu như đi khắp một nửa thiên hạ, tham học vô số pháp sư, nếu so sánh khả năng với sư phụ Đàm Nhất của ta trước đây, người hơn thật chẳng có nhiều”. Thế là ngài trở lại với luật sư Đàm Nhất.
    Lúc chúng Tăng đang vân tập, sư vạn lần xấu hỗ cúi đầu nhận tội, nói : “Con, Thanh Giang, hôm nay trở về gần gủi với sư phụ, hi vọng sư phụ từ bi mà thâu nhận lại con làm đồ đệ”.
    Lúc ấy, Đàm Nhất đại sư trách Ngài, không muốn nhận Ngài trở lại, Thanh Giang khóc như mưa, lạy thầy sám hối và than thở: “Trước đây do con vô tri, giờ đây đã hiểu rõ, khẩn cầu sư phụ từ bi chấp nhận cho con trở lại hầu dưới toà, để cho con được mãn nguyện làm tròn bổn phận người học trò”. Ba lần bi thiết khẩn cầu như thế, Đàm Nhất thương hại sư, khôi phục lại quan hệ thầy trò lúc đầu. Sau Đại sư Đàm Nhất viên tịch, Thanh Giang lại đến Nam Dương bái yết Huệ Trung Quốc sư, được Quốc sư coi trọng truyền yếu quyết tâm pháp cho.
    Bình luận:
    Giác ngộ được rằng mình đã xa rời bậc thánh hiền là một hành động sai lầm, chấp nhận sự thống mạ mà vẫn không thối tâm, có thể nói đó là người minh trí và lại thành kính nữa; sau lại được quốc sư Huệ Trung coi trọng và truyền cho  tâm pháp cũng vì Ngài là người minh trí và thành kính vậy ! Những kẻ hậu bối thiển kiến, niềm tin mỏng manh, đối xử với nó một chút không tốt, thì muốn bỏ đi, một khi đi không bao giờ trở lại, mới quở trách nó một vài câu, thì đã luôn luôn ôm hận trong lòng, như vậy thì dù có gặp được sư phụ cao minh, lại có thể dùng được sao? Giống như kẻ bình dân được vận may gặp hoàng đế và kết giao với anh ta mà chẳngđược nửa chức quan, thật đáng tiếc thay !.
    3.6. Đón thầy về ở chính đường
     Đời nhà Đường, tỉnh Trường Sa, núi Thạch Sương, có Thiền sư Khánh Chư, được đại sư Đại Ngộ Tông Trí, ở Đam Châu, truyền tâm ấn, sau sư đến ẩn cư ở Đông Sơn Lưu Dương, có khi tôn xưng là Lưu Dương Cổ Phật. Rất nhiều người đến nương tựa  sư tu đạo. Lúc đại sư Đạo Ngộ sắp viên tịch, đặc biệt coi trọng đại sư Khánh Chư, đem y bát chính truyền của mình trao cho sư, rồi bỏ chúng đi đến ở với sư. Sư Khánh Chư mời đại sư Đạo Ngộ lên ở chính đường rồi tự mình chăm sóc cúng dường, lúc đi ra đường nhất định dìu thầy đi, lúc ngồi nhất định đứng hầu một bên, lễ phép, kính dưỡng hết sức tận tình.  
    3.7. Hầu thầy lâu năm
    Đời nhà Đường, tỉnh Chiêu Hiền, có Thiền sư Hội Thông.
    Thiền sư Hội Thông lúc tuổi còn nhỏ làm Lục quan đại sứ (quan liên lạc trong cung đình vương thất) của triều vua Đường Đức Tông (780-805), nhưng không muốn công danh phú quý, nên đến yết bái  thiền sư Đạo Lâm Ô Khoa, cầu thế độ xuất gia, thiền sư không nhận. Ngài bi thiết khẩn cầu, cuối cùng Thiền sư xuống tóc thế độ và nhận ngài làm đệ tử. Ngài hầu hạ thiền sư, tuỳ tùng hai bên, siêng năng cần mẫn chưa từng thay đổi, trải qua 16 năm, vẫn chưa được thiền sư khai thị. Thế rồi có một ngày, Ngài tâm sự với thầy, ý muốn đi xa, thiền sư Ô Khoa hỏi ông muốn đi đâu? Ngài đáp: “Muốn đi đến các địa phương tham học Phật Pháp”.
    Ô Khoa Thiền sư nói: “Phật pháp ta đây cũng có một ít”, nói xong Sư nhặt lấy một sợi lông vải nơi y phục thổi một cái. Thông pháp sư hốt nhiên đại ngộ. Nhân một sợi  lông vải rơi xuống mà khai ngộ, cho nên người ta gọi ngài là “thị giả bố ma”.
    Bình luận:
    Người ta chỉ thấy Thông Thiền sư nhân một sợ lông vải rơi xuống mà khai ngộ, chứ không biết rằng trước đây Thiền sư đã trải qua 16 năm tinh cần không giãi đãi, nghiên tập Phật pháp và thường ngày tiếp nhận, huân tập một cách vô hình trung nơi Thiền sư Ô Khoa, đã đến lúc, giống như giây cung đã giương lên, một khi chạm đến liền phát ra cảnh giới, nếu như chưa từng có công phu nhiều năm tinh cần thì làm sao có ngày khai ngộ đó? Gặp được người minh sư như trên, hi vọng không cần quá cấp bách ! 
    3.8. Cẩn thận giữ gìn di mệnh của thầy
    Triều nhà Tống, ở Nam Nhạc, am Thạch Đầu, Thiền sư Hoài Chí, người Kim Hoa, lúc tuổi thanh niên học giảng kinh, do vì bị kích thích bởi một vị tu thiền, bỏ giảng kinh đi tham thiền khắp 4 phương. Sau sư đến đạo tràng Động Sơn (Đạo tràng tông Tào Động, Tổ sư Động Sơn Lương Giới), được Thiền sư Chơn Tịnh Văn khai thị cho mà ngộ đạo, theo hầu Thiền sư Chơn Tịnh Văn rất lâu. Có một hôm, lúc Ngài muốn xa Văn Thiền sư, Văn Thiền sư nói với Ngài: “Thiền học của thầy tuy cao siêu thoát tục, chỗ ngộ cũng rất lớn, nhưng nhân duyên hoá độ chúng sanh của thầy không tốt, miễn cưỡng hoá độ chỉ là dẫn đến sự huỷ báng, cẩn thận kẻo trở lại tạo nghiệp”. Chí thiền sư lãnh mệnh bái biệt, khắc ghi lời dạy trong lòng.
    Đến Viễn Châu, người trong châu thỉnh ngài trú trì chùa Dương Kỳ, nhưng vì bị người trở ngại nên bỏ đi. Sau lại du lịch đến Hồ Nam, Tương Giang một lần, quan mục Đàm Châu thỉnh ngài trụ trì chùa Thượng Phong hoặc Bắc Thiền, ngài đều từ chối. Rồi ngài trụ lại trong một túp lều tranh ở Hành Sơn hơn 20 năm. Ngài có một bài kệ như vầy:
    “Thấy rõ vạn sự, bỏ hết vạn duyên, việc đời chẳng tranh đua, giả vờ thành một kẻ si ngốc, thật thà chất phát, ta rong chơi trong núi rừng, làm bạn với lũ nai cùng nhau du ngoạn, gai gốc bám cũng chẳng thèm gỡ, lấy nắm tay gối đầu, gập cánh tay mà ngủ. Từ vô lượng kiếp đến nay ta trôi lăn trong sanh tử, có bao nhiêu cuộc sống, bao nhiêu thế giới giống như cuộc sống hôm nay, ở am tranh trong núi rừng cây cỏ xanh um như thế này không?”
    Cuối cuộc đời, Sư tham bái Thiền sư Long An Chiếu. Chiếu Thiền sư an bài cho sư trú trì “An Lạc Cung” trong chùa. Sư ở tại đó cho đến khi viên tịch.
    Bình luận:
    Người ta ai cũng thích nổi danh, chứ còn tôn trọng giữ gìn di mệnh của thầy, từ chối mời thỉnh mọi phương diện, hiện tại rất khó tìm! Người bây giờ chỉ tìm cầu danh lợi, ném bỏ lễ nghĩa không thèm nhìn tới, người ta không thỉnh không mời tự mình tìm đến rất nhiều, như thế đó còn nhớ đến lời huấn thị của thầy sao?!
    3.9. Tôn trọng lời dạy của thầy suốt đời ẩn cư
    Đời nhà Tống, thiền sư Thanh Tố, sau khi được thiềøn sư Từ Minh Sở Viên, ở Thạch Sương, Đàm Châu truyền pháp, Ngài ẩn cư trong chúng. Thiền sư Đâu Suất Duyệt bấy giờ cũng ở chung. Có một hôm, trời tối, Đâu Duyệt nghe nói chuyện trong đêm, hỏi ra mới biết thiền sư Thanh Tố từng là thị giả thiền sư Từ Minh, một phen kinh hải. Hôm sau, Đâu Duyệt chỉnh đốn dung nghi trang nghiêm đến yết bái Tố thiền sư. Về sau lại thường xuyên thỉnh giáo Tố thiền sư, trải qua mấy lần khai thị và khảo phát, Duyệt Công cuối cùng đại ngộ.
    Nhưng tố thiền sư cảnh giác Duyệt Công rằng: “Ta do vì phước báo cạn mỏng, tiên sư dạy ta không được truyền pháp độ chúng, hôm nay ta thấy ngươi cũng chí tâm thành ý, thương ngươi mà quên đi lời giáo giới của tiên sư, hi vọng từ đây về sau ngươi không được nói  pháp do ta truyền”.
    Tố Thiền sư ẩn cư mai danh trong chúng suốt đời hầu như không có ai biết Ngài là một Đại Đức đã khai ngộ.
    3.10. Binh nạn không lìa
    Triều nhà Nguyên ở Bắc Kinh, Thiền sư Ấn Giản, người Sơn Tây Ninh Viễn, 8 tuổi bái thiền sư Trung Quán Chiểu làm thầy. Lúc 18 tuổi, quân Nguyên dấy binh đánh hạ thành Ninh Viễn, dân chúng đều đi tị nạn, sư Giản vẫn phục thị thiền sư Trung Quán như cũ, không có ý chạy trốn. Quán thiền sư nói với Ngài:
    “Ta tuổi đã lớn, chẳng biết làm gì, thầy tuổi đang thanh niên còn có việc làm, hà tất phải lưu lại nơi đây, bên lão già sắp chết này làm gì? Thầy hãy tự mình đi lánh nạn đi!”
    Sư Ấn Giản rơi lệ nói: “Nhân quả một sợi tơ kẻ tóc không sai, sống chết có số, con làm sao có thể bỏ Sư phụ mà đi, hoá ra là kẻ tham sống sao?”
    Hôm sau thành Ninh Viễn bị phá vở, quân lính đầøu hàng. Thống sự quân Nguyên, Sử Công Thiên, hỏi sư Giản: “Ngươi là người thế nào?”. Sư Giản đáp: “Là người xuất gia”. Sử lại hỏi: “Ngươi ăn thịt chứ?”. Giản sư đáp: “Thịt gì?”. Sử nói: “Thịt người”. Giản sư đáp: “Hổ là loài súc sinh hung dữ còn không ăn thịt đồng loại, huống chi là con người?”.  Sử nghe nói rất khen thưởng, nhân đó thả Ngài đi.
    3.11. Sư Tánh Không
    Ở huyện Ngô, chùa Tứ Châu, có một vị Tỷ-kheo pháp hiệu là Tánh Không, bỏ đạo tràng tụng kinh sám hối, đến bế quan ở Hiểu Phong sơn. Thầy đã từng cho tôi những bài văn thệ nguyện và những bẩm cáo mười phương v.v… của thầy, tôi rất khen ngợi, tán  thán hoằng nguyện của Thầy. Nhưng không bao lâu Thầy bị ma nhập, điên rồ phát cuồng mà chết. Tôi đau đớn tưởng niệm Thầy, vô cùng thương xót, vừa giận vừa tiếc, truy cứu nguyên nhân, thì ra duyên cớ là vì lúc mới phát tín tâm, có tín tâm nhưng không có trí tuệ! Người xưa, trước khi tâm chưa khai ngộ, không ngại đường xa vạn dặm tìm thầy học đạo, xa một Tòng Lâm này liền vào một đạo tràng khác, cho đến cùng trời cuối đất, đi học khắp nơi, chưa có một giờ một khắc nào dừng nghỉ, mỏi mệt, lười biếng. Sau khi tâm địa đã minh bạch, mới vào ẩn cư trong rừng, bên suối, dùng công phu để nuôi lớn và giữ gìn minh tâm kiến tánh. Còn giống như thầy này đây không dễ gì xuất gia tu hành được, chỉ muốn thoát li năm uẩn mạnh mẽ như lửa thiêu đốt nhà thế tục, bèn nhắm mắt bước vào tử quan, tự tuyệt huệ mạng ư ? Do vì lỗi lầm của bản thân mình chưa được minh bạch, những nghi hoặc trong tâm chưa phân biệt rõ ràng, cho nên mới biến khéo thành vụng, muốn cầu tiến bộ mà ngược lại bị đoạ lạc. Có rất nhiều người lúc mới phát tâm tu hành, ở am tranh trong rừng sâu núi thẳm, ở một mình tu đạo, tự lấy làm thanh cao. Giỏi lắm! Tuy nhiên không bị ma nhập phát điên, nhưng cũng vì vậy không thể biết được lỗi lầm, không được giải nghi, vô cùng bất lợi cho việc tu hành, người mắt sáng thử nghĩ xem.
    3.12. Lục quần Tăng
    Thời Phật còn tại thế, có sáu vị Tì kheo, tên là: Đơn Đà, Ca Lưu Đà Di, Văn Đạt Đa, Mã Sư, và Mãn Túc kết bè kéo cánh làm toàn những việc không hợp oai y, không như pháp, vì vậy thường bị Đức Phật quở trách, bị các đệ tử lớn coi thường. Nhưng, từ xưa đến nay, người ta vẫn nói lục quần Tỷ-kheo thời Đức Phật còn tại thế giống như chư vị Bồ tát Mã Minh, Long Thọ sau này, khi đức Phật đã diệt độ. Ôi! Khổng Phu Tử đã từng chỉ trích Tử Lộ khoẻ mạnh mà thô lỗ, Nghiễm Cầu thì dùng chính sách phiền nhiễu tàn khốc ngược đãi nhân dân, nói Phàn Tu là kẻ tiểu nhân, nhưng mà, nếu như dùng Tử Lộ và Nghiễm Cầu làm quan thì sửa trị chính sách được. Tuy nhiên, so sánh những người mà Khổng Phu tử khen ngợi lúc bấy giờ có chỗ bằng, nhưng ngày nay, thì là trác việt và cả thế giới cũng hiếm có, người hiền thì có thể làm thái phủ hoặc huyện lệnh, giỏi lắm thì làm tướng! Sau này các danh tướng như Uyên Hà, Tào Tham, Cung Thắng, Hoằng Bá, Phòng Huyền Linh, Đỗ Như Hối, Diêu Sùng, Tống Cảnh, Hàn Kỳ, Phạm Trọng Yêm, Phú Bật, Âu Dương Tu, cũng chưa hẳn có thể so sánh được với những người trên! Nếu như Lục quần Tỳ theo là những người thù thắng sau này lại có thể làm điều kỳ quái vậy sao? Cho nên, trong kinh ‘Đại Phương Đẳng Đại Tập’, ở phẩm ‘Nguyệt Tạng Diêm Phù Đề’, đức Phật nói nội dung như sau: “Sau khi ta diệt độ trong khoảng 500 năm đầu, các Tỷ-kheo giải thoát giống như pháp của ta rất kiên cố, 500 năm tiếp theo, chánh pháp Thiền tông tam muội của ta được trụ kiên cố, 500 năm tiếp theo nữa, những người đọc tụng, đa văn được trụ kiên cố, 500 năm tiếp theo nữa trong pháp của ta kiến tạo nhiều chùa tháp được trụ kiên cố, và 500 năm tiếp theo nữa là thời kỳ đấu tranh kiên cố, lời tụng pháp trong sáng bị ẩn đi, nhưng chưa thật sự tổn giảm”. Cách Phật càng lâu thì đạo càng khắc nghiệt, càng mạt pháp, tu hành càng kém. Trong Hoài Nam Tử, Truỵ Hình Chương cũng nói : “Vũ gia sinh Phi Long, Phi Long sinh Phượng Hoàng, Phượng Hoàng sinh Loan Điểu, Loan Điểu sinh Vũ Điểu, phàm là vũ đều sinh chim hết”. đây không phải cũng là sự biểu thị một đời không như một đời sao? thật tại nói rất có lý! sao có thể không vì vậy mà thốt lên ba tiếng ai thán! Mặc dù như thế, nhưng Mạnh Tử nói : “Kẻ sĩ hào kiệt tuy rằng sinh phải thời không có người trọng dụng như minh quân Văn Vương, nhưng cũng có thể tự mình sáng tạo một sự nghiệp”. Nếu như câu nói này không sai như thế thì quả là đại vạn hạnh cho chúng sanh! Tôi mỗi ngày đều hi vọng như vậy.
    TỔNG LUẬN:
    Thời xưa, kẻ làm đệ tử, sau khi sư phụ chết, kính ngưỡng rất kiên định, không trái di mệnh của thầy, tín thọ phụng hành. Ngày nay kẻ làm đệ tử, sư phụ hãy còn chưa chết tín ngưỡng đã dao động, thay đổi, nguyên nhân vì sao? Thật tại là vì, lúc mới phát tâm xuất gia, tất cả không phải ai cũng chân chính muốn nương vào chánh tri, chánh kiến của thầy để liễu thoát sanh tử, là mà nhất thời hứng khởi, ngẫu nhiên trùng hợp bái thầy mà thôi. Cho nên, thấy có danh lợi có thể mưu đồ được thì bỏ sư phụ liền, hoặc giả gặp bạn bè xấu mê hoặc dụ dỗ rồi bỏ thầy mà đi, hoặc giả làm việc sai bị thầy quở trách, dạy dỗ mà căm hờn bỏ sang chỗ khác, thậm chí có thầy bạn tốt không theo ngược lại đi theo bạn ác, thầy hư, giống như từ cây cao bóng mát lại bỏ đi đến khe núi sâu tối, càng đi xuống chỗ chênh vênh. Mạnh Tử có nói trong chương Đặng Văn Công rằng, bấy giờ, học trò của Trần Lương là Trần Tương, sau khi thầy chết rồi, liền theo Hứa Thành, người rợ Man phương Nam, học cày ruộng; lại có pháp sư Linh Nghiệp bỏ học Phật đi làm đạo sĩ cầu trường sanh, thậm chí giống như thị giả của thiền sư Thái Dương (gọi là Bình thị giả) đem di thể của sư phụ từ trong tháp ra để phá huỷ, đạp nát đầu, tự lấy làm cao minh, cũng có nhiều! Luân lý đạo thầy trò đã mất, thật đáng buồn!
     
     
    • ĐẠO ĐỨC NGƯỜI XUẤT GIA
    • Đại sư Liên Trì
    • Thích Nguyên Hùng dịch

    • CHƯƠNG 4
    • HẠNH HIẾU THÂN
     
    4.1. Thắng hội Vu Lan
    Thời Phật còn tại thế, Tôn giả Mục Kiền Liên phụng thờ mẫu thân rất mực hiếu thảo. Sau khi mẹ mất, ngài xuất gia tinh tấn tu hành, chứng quả La hán, được lục thông. Ngài dùng thần thông thấy thân mẫu sau khi chết bị sanh trong đường ngạ quỉ, đói khát vô cùng. Mục Liên bèn đem cơm dâng mẹ, nhưng không hiểu vì sao cơm mới đưa đến miệng thì bổng hoá thành lửa dữ. Thần thông rốt cuộc cũng chẳng chuyển hoá được nghiệp lực. Mục Liên rơi lệ trở về đem sự tình bẩm báo với đức Thế Tôn, đức Phật dạy:
    “Mẹ của con khi còn sống đã tạo nhiều tội ác, một mình con không thể chuyển hoá được nghiệp báo của mẹ con, nhất định phải nhờ sức mạnh, oai thần của mười phương Tăng mới có thể chuyển hóa. Con hãy đợi đến ngày rằm tháng bảy, ngày ấy chúng Tăng an cư kiết hạ hoàn mãn, ngày giải hạ, trong ngày ấy, mỗi thầy đều nhờ các thầy khác kiểm điểm, chỉ cho lỗi lầm của mình để sám hối và sửa đổi. Sau ba tháng an cư, nếu không thiền định giải thoát, đoạn hoặc chứng quả, vẫn có thể diệt tội Tăng phước, chư Phật đương nhiên vui mừng, cho nên ngày đó gọi là ngày Phật hoan hỷ, còn gọi là ngày Tăng tự tứ, con nên vì mẹ thiết lễ Vu lan bồn (Trung Hoa gọi là Cứu đảo huyền, vì trong lễ này, người sắm sanh lễ vật gồm những thức ăn và đồ dùng dâng cúng chư Phật cùng chư Tăng để cầu nguyện cho thân mẫu trong đường ngạ quỉ được đỡ đói khát, sự sống đang bị treo ngược), cúng dường Phật và Tăng mới mong cứu được mẹ con”.
    Mục Liên y theo lời Phật dạy thiết lễ Vu Lan, mẹ của Ngài ngay trong ngày ấy được thoát khỏi đường ngạ quỷ, lại còn được Tăng phước báo, sanh lên cõi trời hưởng thụ an vui. Cũng nhân thắng hội Vu Lan này mà được lưu truyền mãi mãi.
    Bình luận:
    Lúc cha mẹ còn sống phụng thờ hiếu dưỡng, sau khi chết dùng lễ chịu tang, đó là hiếu nhỏ; lúc còn sống cho cha mẹ niềm vui, sau khi chết vì cha mẹ mà lưu danh thơm tiếng tốt ở đời, đó là đại hiếu; lúc còn sống có thể dẫn dắt cha mẹ tin Phật, sau khi chết có thể siêu độ tâm linh đó mới là đại hiếu trong mọi thứ đại hiếu khác. Mục Liên là người như vậy.
    4.2. Đích thân hầu hạ mẹ
    Thời Nam triều, đời nhà Tề (479-502), tại huyện Nghiệp Hạ, có pháp sư Đạo Kỷ.
    Sư Đạo Kỷ tu theo tông Thành Thật luận, có sáng tác bộ ‘Kim tạng luận’, 7 cuốn. Ngài giảng kinh ở Đông Giao, Nghiệp Thành. Mỗi lần đi giảng kinh sư đều gánh mẫu thân và kinh điển, tượng Phật … theo. Sư nói với mọi người rằng : “Tôi muốn tự mình cúng dường mẹ, bởi vì công đức cúng dường mẹ và cúng dường Bồ tát Đăng Địa giống nhau”. Y phục, ẩm thực, đại tiểu tiện của mẹ, sư đều tự mình lo liệu, không muốn phiền hà người khác. Có người muốn giúp sư, sư từ chối nói : “Đây là mẹ của tôi, đâu phải mẹ của anh. Thân thể của mọi người chúng ta bất quá chỉ là bốn đại giả hợp, bởi vì nó mới có nhiều phiền toái và đau khổ, tôi cũng không ngoại lệ. Có thân thì có khổ. Nhường nỗi khổ của tôi lại chắc? hà tất phải cảm phiền người khác!”.
    Đương thời, không luận là tại gia hay xuất gia đều được ngài cảm hoá.
    4.3. Tuyệt thực để tang.
    Thời Nam Bắc triều, đời nhà Lương (502-557), tại Dương Đô, chùa Quang Trạch, có pháp sư Pháp Vân.
    Sư Pháp Vân người Dương Tiện, huyện Nghi Hưng, tỉnh Giang Tô, 7 tuổi xuất gia, bái Pháp sư Bảo Lượng, chùa Trang Nghiêm làm thầy. Lớn lên trông sư rất thanh tú, anh tuấn, tài hoa xuất chúng. Sư từng khai giảng kinh Pháp Hoa và kinh Duy Ma Cật tại chùa Diệu Âm, rất nhiều người học từ bốn phương vân tập về nghe. Sư Pháp Vân tính tình rất hiếu thuận, hầu hạ cha mẹ rất ân cần. Có một hôm, mẹ sư từ trần, sư bi ai quá độ, mấy ngày liền không ăn vật gì, thân thể tiều tuỵ chẳng ra hình người.
    Pháp sư Mân nói với sư : “Thánh nhân đã chế định lễ tiết, quy củ, người hiền năng phải đè nén lý tưởng mình thấp xuống, nhân nhượng để hợp với lễ; người không có hiền năng thì muốn miễn cưỡng hướng thiện, truy tiến. Nhà Nho còn có bi thương cũng không thể nào đem cả thân mạng của mình vượt qua quy định, (Lễ Ký, chương thứ 4, tang phục, đã định : “Phá hoại cũng không được diệt mất cái tánh, không được vì người chết mà tổn thương đến người sống”), huống chi nhà Phật đã có nói một câu danh ngôn rất chí lý: “Muốn báo đáp ân đức, dưỡng dục cao dày của cha mẹ, việc nhỏ thì tận tâm tận lực phụng thờ cha mẹ, khá hơn một chút thì làm cho cha mẹ được vui, còn xa hơn nữa thì làm cho cha mẹ phát khởi tâm bồ đề, hướng dẫn thần thức của cha mẹ đi vào chánh pháp”, thầy phải nên từ nơi ý muốn làm một việc cao xa, đó là khiến cho mẹ được siêu độ, chứ tại sao lại có thể như bọn người thế tục có cái nhìn nông cạn, một mực bi thương đến nỗi tuyệt thực thế kia?”.
    Vân Pháp sư sau khi nghe mấy lời dạy dỗ ấy mới ăn cơm trở lại.
    Bình luận:
    Ông Tăng Tử khi mẹ chết, 7 ngày không ăn không uống, giống như Vân pháp sư, mẹ chết cũng thủ tang tuyệt thực, so với ông Tăng Tử chỉ có hơn chứ không kém. Có người nói: “Tín đồ Phật giáo đều không để ý đến cha mẹ mình”, câu nói này có thể tin được không?.
    4.4. Huyết lệ bi thương
    Triều nhà Tuỳ, tại Ngô Đô, núi Hổ Khâu, có pháp sư Trí Tập, trú trì chùa Đông Sơn, Giang Tô. Đời Trần Hậu Chủ, niên hiệu Chí Đức năm thứ 3 (586), gặp phải tang mẹ, sư bi ai thống khổ, khóc lóc không thôi, đau khổ cơ hồ đến chết. Sau sư thường trú tại tịnh xá Đông Sơn, hay giảng kinh thuyết pháp, thường xuyên khai giảng không dừng nghỉ, đó là một thời Phật pháp đại thịnh.
    4.5. Gánh mẹ đi nghe pháp.
    Triều nhà Tuỳ, trong nội thành Đông Đô, đạo tràng Huệ Nhật, có pháp sư Kính Thoát, người Quận Cấp, xuất gia từ nhỏ, vì hiếu thuận với cha mẹ nên nỗi danh là người thanh cao chánh trực. Mỗi lần đi nghe giảng kinh sư thường gánh một gánh, một đầu là mẫu thân, một đầu là kinh sách, luật. Lúc ăn uống, Sư An Trí đặt mẹ ngồi dưới gốc cây, rồi tự mình vào trong thôn xóm khất thực xong ra dâng cho mẹ dùng.
    4.6. Đào giếng báo ân cha .
    Triều nhà Đường, tại Kinh sư, chùa Hoằng Phước, có pháp sư Huệ Bân.
    Pháp sư Huệ Bân người Cẩn Châu, phụ thân tên Lãng, làm quan ở trong triều, thọ hơn 100 tuổi. Sư rất kính yêu cha, cảm thấy chưa biết làm thế nào để báo đáp ân đức của cha cho tốt, đành phải ở phía nam sông Vấn Thuỷ, nơi bùng binh của đô thành, đào một cái giếng cúng dường cho người bốn phương sử dụng, dùng công đức này hồi hướng để báo đáp công ơn của cha mẹ. Đồng thời dựng một cái bia để làm kỉ niệm. Trên bia có mấy dòng chữ cảm động lòng người, thế này: “Tôi rất lo nghĩ những bô lão tuổi đã về già, khả năng lại không có, và tôi bổn phận làm con, hằng ngay gặp nhau, đời người trăm tuổi, trong nháy mắt đã trôi qua, đối với cái giếng này cũng không ngăn cản được thế sự vô thường, năm tháng vô tình, cảm thấy bi ai vô hạn”.
    4.7. Lễ tháp cứu mẹ
    Đời nhà Đường, ở kinh sư chùa Đại An Quốc, có pháp sư Tử Lân.     
    Pháp sư Tử Lân, thân phụ họ Phạm, thân mẫu họ Vương, cả hai đều không tin Tam Bảo, không cho Tử Lân xuất gia, sư trốn nhà đi tu, đến Đông Đô, y chỉ xuất gia với luật sư Quảng Tu, chùa Quảng Ái. Có một hôm, bổng nhiên sư nhớ đến song thân, bèn trở về nhà thăm. Bấy giờ, thân phụ của sư hai mắt đã mờ, mẫu thân thì đã tạ thế ba năm rồi. Thế là sư đến miếu Đông Ngục Đại Đế, xắp xếp toạ cụ, tụng kinh Pháp Hoa, phát thệ phải thấy Ngục đế, để biết sau khi chết mẫu thân sanh đến chốn nào. Vào một tối kia, sư mộng thấy Ngục Đế nói rằng : “Mẫu thân của ngài sau khi chết đoạ lạc trong địa ngục, hiện tai đang chịu muôn ngàn khổ sở”. Sư bi thảm khóc lóc thỉnh cầu Ngục đế nói cho biết phải làm cách nào để cứu nạn cho mẹ. Ngục đế nói: “Ngài có thể đến  chùa A Dục Vương, lễ bái tháp xá lợi Phật, thì có thể cứu được mẹ ngài”. Sư Lân liền đến tháp A Dục rơi lệ lễ bái lạy đến 4 vạn lạy, bổng nhiên có âm thanh gọi tên sư, sư ngước đầu nhìn lên hư không mẫu thân hướng đến ngài nói lời cảm tạ: “Nhờ công đức lễ tháp xá lợi Phật của con mà mẹ được vãng sanh trời Đao Lợi”. Nói xong thì biến mất .
    Bình luận :
    Lòng hiếu thảo của ngài Mục Kiền Liên cảm động đến Phật đà, dạy ngài đến ngày Phật hoan hỷ, rằm tháng bảy, thiết lễ cúng dường chư Tăng để cứu mẹ, lòng hiếu thảo của sư Tử Lân cảm động đến thần linh, dạy ngài lễ tháp để cứu mẹ. Chí hiếu cảm động đến thần linh, có thể không tin được sao ?          
    4.8. Ngộ đạo báo ân cha.
    Triều nhà Đường, tỉnh Phước Châu, tu viện huyền sa, có thiền sư Sư Bị Tông Nhất.
    Sư họ Tạ, thân phụ vốn làm nghề đánh cá sinh nhai, nhưng thật bất hạnh, bị nước cuốn trôi mà chết, sư nhân đó mà xuất gia, để báo đáp ân đức dưỡng dục của cha. Sau khi xuất gia, sư tu hành rất thanh tịnh và kham khổ, chỉ có một đôi dày, một tấm y bằng vải khô, ăn uống rất ít, chỉ đủ để duy trì sự sống. Sư kết bạn với Thiền sư Nghĩa Tồn ở viện Tuyết Phong Quảng Phước, tỉnh Phước Châu. Thiền sư Tuyến Phong nhân thấy sư khổ hạnh cho nên gọi sư là Đầu-đà.
    Có một hôm, sư mang hành lý xuống núi, định đi hành cước các nơi để tham thiền học đạo, đi chưa được bao xa, bỗng nhiên chân bị thương, chảy máu nhiều và hốt nhiên đại ngộ, thế là sư không xuống núi nữa, trở về y chỉ Thiền sư Tuyết Phong, nhờ chỉ bày phương pháp giữ gìn tâm pháp. Thiền sư Tuyết Phong nói: “Đầu đà Bị là Bồ tát tái sanh mang tâm nguyên hoá độ chúng sanh!”.  Sau đó, có một buổi tối sư mộng thấy thân phụ đến cảm tạ sư : “Nhờ thầy xuất gia tu học được minh tâm kiến tánh mà tôi được trượng thừa công đức thoát khỏi mê đồ, đã sanh lên cõi trời, cho nên đến đây để báo cho thầy biết”.
    • 4.9. Cắt chân xuất gia
      Triều nhà Đường, tại Hàng Châu, Kính Sơn, có pháp sư Giám Tông.
      Sư người Trường Thành, Đồ Châu, họ Tiễn thị, phụ thân là Tiễn Thịnh. Hôm cha sinh bệnh nặng, sư cắt thịt nơi đùi của mình nấu cho cha dùng, nói dối rằng đó là thịt của súc sinh, nhân đó cha lành bệnh. Thế là sư cầu xin cha cho xuất gia. Sau đo,ù sư đến yết bái Thiền sư Diêm Quan Ngộ Tôn, theo đại chúng tham thiền học đạo, đốn ngộ được bổn lai diện mục. Đời Đường Yến Tông (859-873), khoảng giữa niên hiệu Hàm Thông*, sư trú trì tại Thiên Mục Sơn, núi Đông Phong Kính, người ta gọi sư là Kính Sơn nhị tổ.
      4.10. Bán giày nuôi mẹ.
      Triều nhà Đường, tại Mục Châu, chùa Long Hưng, có sư Trần Tôn Túc (tôn túc có nghĩa là thọ giới Tỷ-kheo 40 tuổi hạ trở lên), sau khi tịch được truy phong hiệu Đạo Minh pháp sư. Thoạt đầu, sư hành cước khắp nơi tham thiền học đạo, sau tham học với Thiền sư Hoàng Nghiệt, được ấn chứng, thấu suốt tâm địa. Sau đó, sư trú trì thiền viện Quan Âm, chúng Tăng thường trú có hơn ngàn người. Sau sư bỏ lãnh chúng, vào chùa Khai Nguyên ở trong một mật thất nhỏ, làm giày bằng lá Dương bồ, đem bán một bên đường, lấy tiền phụng dưỡng mẫu thân, người ta gọi sư là “Trần Giày Lá”.
      4.11. Lòng chí thành cảm ứng đến hài cốt của cha.
      Triều Hậu Chu (951-960), tại Lạc Kinh, chùa Phước Quang, có pháp sư Đạo Phi.
      Sư người làng Quí Trụ, Trường An, là tôn thân hoàng tộc triều nhà Đường, 7 tuổi xuất gia, năm 29 tuổi gặp nhị thái tử (Đường Thái Tông) giết thái tử Kiến Thành và Tam thái tử Nguyên Kết, dời đô sang Lạc Dương, kinh đô cũ Trường An loạn binh nỗi lên thiêu huỷ sạch sẽ, sư không còn nhà để trở về, thế là sư cõng mẫu thân trốn vào Hoa Sơn, ở trong hang núi. Đương thời gạo giá rất cao, sư không ăn cơm gạo ngũ cốc, chỉ khất thực về để cúng dường cho mẹ. Mẹ ngài hỏi: ‘Thầy đã ăn chưa?’, Ngài sợ mẹ lo lắng, đáp : ‘Con đã ăn rồi’.
      Có một hôm mẹ sư nói: “Thân phụ của thầy đi chinh chiến chết tại sa trường Hoặc Sơn, thi thể phơi ngoài đồng hoang, gió sương đêm ngày lạnh lẽo, thầy có cách gì để tìm hài cốt về mai táng được không?”.
      Thế là sư đến Hoặc Sơn, thu lượm tất cả xương cốt lại thành một đống, xong, ngồi trước đống xương đêm ngày tụng kinh và phát nguyện rằng:
      “Người xưa, tinh thành sở cảm, giọt máu nhận cốt, nhưng nay tôi nguyện trong đống xương này, nếu có xương cốt nào chuyển động, ấy chính là di cốt của phụ thân tôi”.
      Nói xong, mắt tập trung chú ý nhìn thẳng vào đống xương. Mấy ngày sau có mấy khúc xương từ trong đống hài cốt nhảy ra, lung lay rất lâu, sư Đạo Phi vạn phần bi thống, ôm lấy khúc xương mang về cho mẫu thân thấy. Tối hôm qua, mẹ ngài mộng thấy phu quân trở về, sáng ra sư đem linh cốt trở về, (một sự trùng hợp kỳ diệu). Người ta đều cho rằng do lòng chí hiếu của sư đã cảm động đến quỉ thần mới được như vậy. Sau đó, Hoàng đế chiếu lệnh sư vào giảng kinh luận đạo ở trong cung đình, thường ở vào vị trí cao nhất. Không luận là quan trong triều hay bá tánh thứ dân đều qui kính sư.
      Bình luận :
      Tự mình không ăn uống, nhường để cho mẹ dùng, chí thành tụng kinh mà tìm được hài cốt của cha, có thể nói rằng đó là đại hiếu, không những chỉ với mẹ hiền đời mà với cha đã tạ thế đều tận lòng hiếu thảo; hạnh hiếu này có thể nói xưa nay ít có. Ôi! Thật là một người kỳ đặc!
      4.12. Niệm Phật cứu mẹ.
      Triều nhà Tống, ở phủ Chơn Định, có thiền sư  Hồng Tế Tôn Ghi.
      Thiền sư Tôn Ghi người Tương Dương, thân phụ mất sớm, mẫu thân là Trần Thị, mang sư sang nhà cậu nhờ nuôi giúp. Lúc tuổi nhỏ học vấn theo đạo Nho, 29 tuổi bái thiền sư Viên Thông Pháp Tú, chùa Trường Lô (tức chùa Pháp Vân ở Đông Kinh), thế độ xuất gia. Sau đó tham cứu kinh Phật, hiểu rõ nghĩa mầu, thấu suốt chân tâm, sư đem thân mẫu đến ở với mình trong một thất nhỏ ở phía đông thất của Phương Trượng, khuyên mẫu thân xuống tóc. Ngoài việc phụng dưỡng cơm nước, sư khích lệ mẹ niệm Phật, sau đo,ù mẹ sư không bệnh an nhiên vãng sanh. Sư có bài văn “Khuyến Hiếu” lưu thông trong đời, người ta gọi sư là Từ Giác thiền sư.
      Bình luận :
      Thiền sư Ghi tinh sâu pháp môn Tịnh độ, không những tự lợi mà còn lợi tha, cho mẹ Ngài; nếu như có thể khiến cho mẹ được vãng sanh Tây phương so với sanh thiên hưởng lạc thì đây cao minh thù thắng hơn nhiều! Người xuất gia muốn báo đáp ân đức cha mẹ, không thể không biết sự kiện này.
      4.13. Cha mẹ phải lạy con xuất gia?
      Tôi có viết một cuốn sách tựa đề “Chánh Ngoa tập”, trong đó có đề cập đến vấn đề, ý nghĩa ‘phản’ là ‘hoàn’ của việc ‘phản bái’. Cha mẹ tại gia không được nhận sự bái lạy của con xuất gia, mà ngược lại còn phải lễ lạy con. Như vậy,  không phải ngược lại cha mẹ đi lạy con mình trước hay sao! Có một vị Tăng tức giận, bất bình nói :
      Kinh Pháp Hoa nói rằng: ‘Đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai sau khi thành Phật, phụ thân của Ngài là vua chuyển luân thánh vương hướng về Ngài đảnh lễ’. Đây chính là cha mẹ tại gia lạy ngược lại con xuất gia đấy. Đức Phật đã có dạy rõ ràng như  vậy, cho nên kinh điển sau này mới ghi lại”.
      Tôi chấp tay hướng về thầy ấy nói rằng:
      “Bạch thầy, danh hiệu Như Lai của thầy là gì?”.
      Vị Tăng ấy nói “Không dám!”.
      Tôi lại nói “Thầy đã không phải là Như Lai, thế thì chắc cũng đã thành chánh đẳng chánh giác hay gần thành Phật rồi đấy chứ!”
      Ông ta lại luôn miệng nói : “Không dám, Không dám”.
      Tôi nói : “Đã không dám, thì đợi Ngài chóng thành chánh giác, lại ngồi ngay thẳng thêm mười kiếp nữa (Đức Đại Thông Trí Thắng Phật, mười kiếp ngồi trong đạo tràng, Phật pháp không hiện tiền, không thành Phật đạo), hiện tại phải chứng cho được quả vị giống như Đức Đại Thông Như Lai, rồi mới tiếp nhận lễ lạy ngược trở lại của cha mẹ; còn đức Đại Thông Trí Thắng Phật, lúc nhận lễ lạy của phụ thân, Ngài ở giữa hư không, thì coi như không có ý nghĩa nhận lễ lạy. Mà còn nữa, người thế tục đã huỷ báng tín đồ Phật giáo là không coi có cha mẹ, tôi chính vì lo nghĩ việc này, sợ gây ra cho người đời sự hiểu lầm càng thêm trầm trọng, mà gia dĩ phân biệt phải trái, để người đời khỏi huỷ báng Phật giáo, với hy vọng Phật pháp có thể trường tồn ở đời, sao thầy không sợ tạo khẩu nghiệp, cam tâm làm người có tội của Phật môn? Thầy đúng là hạng “con trùng trong thân sư tử, tự ăn thịt sư tử”, đáng thương thay”!
      4.14. Tổng luận.
      Người đời chỉ trích người xuất gia không có hiếu với cha mẹ, nhưng không biết rằng sự hiếu thuận của người con Phật so với người đời không ai bằng. Có nhiều truyện cao Tăng, thánh hiền… đều ghi lại những hành vi hiếu hạnh song thân, trong lịch sử cũng có nhiều sự thật được chứng minh! Ngày nay, vẫn còn có người căm giận sâu sắc, chán ghét người xuất gia giống như chán ghét rắn độc, bò cạp độc, đây cũng là do người xuất gia tạo thành cho mình mà thôi, tạo thành tội lỗi này, nguyên do có ba : hưởng thụ của cúng dường mười phương và không nghĩ đến sự đói khát của cha mẹ mình, đây là nguyên nhân thứ nhất; thứ hai là mình đi đâu cũng đi bằng xe cao thuyền rộng mà để cho cha mẹ giống như những người công nhân, đầy tớ, đi bằng xe ngựa xe kéo; thứ ba là cắt ái từ thân, dứt bỏ tình thâm để đi xuất gia vậy mà nhận người dưng nước lã làm cha mẹ nuôi. Hi vọng người đời không nên lấy ba điều này của những người xuất gia hư hèn, hạnh xấu xa mà chỉ trích toàn bộ Tăng ni.

    * Niên hiệu Hàm Thoâng có 15 năm, từ 860 đến 874, đây chắc khoảng năm 867.
Thông tin Phật giáo
Liên hệ Phật giáo

 
Thống Kê Truy Cập
Flag Counter

thongke535115
Tổng số lần truy cập : 535115
Số lần truy cập hôm nay : 36
Số lần truy cập hôm qua : 284
Số lần truy cập tháng này : 6761
Số lần truy cập năm nay : 140362
Số trang xem hôm nay : 575
Tổng số trang được xem : 8213433
Người đang online : 5
thiết kế website tại buôn ma thuột
Copyright © 2014 Bản quyền thuộc về Vô Lượng Công Đức. Có tích hợp giao diện cho mobile