1010 867
Ngày đăng: 2013-12-08 05:38:49-- Lượt xem: 8958.
Kích cỡ chữ: Giảm - Tăng

TÀI LIỆU Trại Huấn luyện Gia Đình Phật Tử 2

Lịch sử Ðức Phật Thích Ca: Hai giai đoạn lớn: *Từ giáng sinh đến thành đạo. *Từ thành đạo đến nhập diệt.Giai đoạn đầu là giai đoạn học hỏi nhiều, vì biểu dương một sự cố gắng phi thường, gây cho chúng ta nhiều quan niệm sống

Gồm các bô tài liệu sau: TUYẾT SƠN – ANOMA / NI LIÊN – LỘC UYỂN – A DỤC – HUYỀN TRANG – VẠN HẠNH – HUẤN LUYỆN VIÊN – ĐỜI SỐNG TRẠI TRẠI HUẤN LUYỆN ANÔMA – NI LIÊN

1. LỊCH SỬ ĐỨC PHẬT THÍCH CA

(Từ sơ sinh đến nhập diệt)

I. Ấn Ðộ trước khi Phật mới sanh:

Là một nước: Về lãnh thổ bị phân chia từng nước nhỏ có vua quan riêng, có binh lính riêng, thường sát phạt nhau, khuynh đạo nhau.

Về học thuật tư tưởng thì có trên 60 phái, từ duy thân, duy tâm, đến duy vật chống báng nhau. Về tôn giáo thì Bà La Môn Giáo ngự trị với chế đạo với giai cấp nặng nề do Bà La Môn thống trị. Giai Cấp Palia – giai cấp hạ tiện nhất – bị muôn ngàn áp bức, khống chế, hành hạ.

Lòng người ly tán, thần quyền tự trị, xã hội bất công. Trong sự đổ vỡ ấy, Thái Tử Tất Ðạt Ða ra đời, và sự ra đời ấy quả thật cần thiết để thống nhất lại nước Ấn Ðộ, thống nhất lại nhân dân.

II. Nhìn vào đời sống của Ðức Phật Thích Ca:

Trước hết, “Phật” cũng là “người” như chúng ta, Ngài cũng mang tâm trạng hết sức là người, vui, buồn, lo lắng, thắc mắc, băng khoăn, dằn vặt và chịu đựng được mọi sự bi đát của thân phận người.

Nhưng, cái thân phận bèo bọt ấy có đủ khả năng tiến bộ, tiến bộ đến mức cao nhất – Ðại Giác. Suốt cuộc đời của Thái Tử Tất Ðạt Ða đến địa vị Phật Ðà tất cả những diễn biến đều có sứ mạng chứng minh cái khả năng vô thượng ấy. Ðó là niềm tin cao ngất, và niềm tin ấy được báo hiệu qua lời nói của Thái Tử Tất Ðạt Ða khi mới giáng sinh: ỀTrên trời dưới đất chỉ có khả năng chứa đựng trong con người là độc tônỂ, “Thiên thượng, thiên hạ, duy ngã độc tôn”. Mỗi một cử chỉ, mỗi một hành động, mỗi lời nói là một bài học, là cả một bài thuyết pháp không lời. Ðó cũng là một lối giáo dục – giáo dục bằng hành động

Ðó là những điều hết sức cần thiết để chúng ta học lịch sử của Ðức Phật. Ðó là những bài học mà các em đội chúng trưởng cần phải tìm tòi để ứng dụng vào nếp sống đội chúng trưởng của mình. Có như thế, chúng ta mới thâu nhập được những tinh hoa cho đời sống cho cá nhân cũng như đoàn thể. Với nhận thức căn bản ấy, chúng ta đi vào lịch sử của ngài.

III. Lịch sử Ðức Phật Thích Ca:

Hai giai đoạn lớn: *Từ giáng sinh đến thành đạo. *Từ thành đạo đến nhập diệt.

Giai đoạn đầu là giai đoạn học hỏi nhiều, vì biểu dương một sự cố gắng phi thường, gây cho chúng ta nhiều quan niệm sống

A.Giáng Sinh:

Giáng sinh vào dòng họ quý tộc vương giả của vua Tịnh Phạn và Hoàng Hậu Ma Gia đều lấy lòng nhân ai để cai tri dân chính, sự từ bỏ ngai vàng điện ngọc để dấn thân vào con đường chông gai sau này làm nổi bật lên ý nguyện cứu thế của Thái Tử. Dòng nước mắt của đạo sĩ A Tư Ðà đã là những giọt nước mắt chân thành của bất cứ ai cảm thấy mình không được duyên lành nghe những lời thuyết pháp của vị đại giác ngộ.

Ngày trăng tròn tháng tư là ngày Ðản Sanh của Phật, ngày biểu hiệu cho: - Hòa Bình, vì đạo Phật là đạo của tình thương. - An lạc, vì đạo Phật diệt trừ tham lam, sanh hận và si mê, nguồn gốc của chiến tranh. - Bình đẳng, vì đạo Phật chủ trương không có giai cấp trong nước mắt cùng mặn, trong máu cùng đỏ; không những chỉ bình đẳng giữa người và người mà bình đẳng ở giá trị tuyệt đối con người (Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành). Mọi chúng sanh đều có khả năng thành Phật

B.Tâm trạng của Thái Tử Tất Ðạt Ða:

Sống trong nhung lụa, trong sự nuông chìu của vua quan, trong viện ảnh nối nghiệp ngôi báu của vua cha, tâm trạng của Thái Tử chưa hề được yên ổn vì luôn luôn bị giằn vặt bởi những thực tế cuộc đời: sự sống, bệnh tật, già nua và chết chóc. Những lo âu ấy cho ta thấy cái ý hướng của Thái Tử theo chiều đại chúng, nhân loại.

Tâm trạng ấy làm cho hoàng gia lo ngại tìm cách giữ con lại với ngai vàng và Ềtơ tình tuy mành mà chắcỂ.

C. Cuộc tranh hùng:

Mà phần thưởng là do Da-Du-Ðà-La, một cô gái vẹn toàn, theo tập tục đương thời thi cung, thi kiếm, thi cưỡi ngựa. Trong ba cuộc thi, cuộc thi cưỡi ngựa để lại cho chúng ta nhiều bài học quý giá: bài học chinh phục con ngựa ô khó tính. Sự trinh phục dựa trên tình cảm và tình thương là một sự trinh phục có thành quả lâu bền và vững chắc, và là một kinh nghiệm mà người diều khiển không thể không suy nghiệm.

D. Ra đi:

Trước khi rời khỏi cung điện, Thái tử cũng đà suy nghĩ rất nhiều về quyết định trọng đại ấỵ. Ba lần ra đi, ba lần trở lại nhìnvợ đẹp con thơ lòng xao xuyến. Nhưng vì nghĩa cả Thái Tử quyết cùng với Xa Nặc, với Kiền Trắc ra đi trong đêm đen sau một buổi tiệc linh đình trong cung vua. Ðến bờ sông Anoma Thái Tử đã:

Cắt bỏ tóc tượng trưng cho sự dứt bỏ phiền nào nghiệp chướng.

Cởi chiếc vương bào, là muốn dứt khoát địa vị, lợi danh.

Vĩnh biệt vương bào, không muốn chinh phục đất cát bằng lưỡi kiếm nhọn như ngài đã nói: ỀTa không muốn làm một kẻ chinh chiến, tắm bánh se trong máu đào của muôn bãi chiến để rồi lưu lại cho hậu thế một kỷ niệm ghê gớm.Ể

Tất cả những thứ ấy – những thứ ràng buộc – đều được gởi trả lại Phụ Vương để biểu lộ ý chí cương quyết của Thái Tử. Thiếu ý chí và sự quyết tâm thì mấy ai làm được gì trên đời này?

E. Học hỏi:

Thái Tử đã tìm thầy học đạo. Nghe đâu có thầy giỏi là Thái Tử đến đó để học hỏi. Cuối cùng Thái Tử tu khổ hạnh với năm vị Sa-Môn. Mỗi ngày chỉ ăn một hạt mè, một hạt đậu, uống nước sông cùng chịu bao nhiêu sự ép xác khác gây ngạc nhiên và thán phục của những người đồng tu. Khổ hạnh cho nên thân mòn sức kiệt mà ánh đạo thì vẫn chìm trong bóng tối. Thái Tử sắp ngã gục trong quãng đường đang bỏ dở thì câu chuyện về sợ dây đàn của những nàng ca nữ làm Thái Tử tỉng giấc để về với con đường Trung-Ðạo, con đường vượt ra ngoài hai thái cực buông lung và ép xác.

Sau đó, ngài nhận bát Nê-Hồ của nàng Tu-Xa-Ðề rồi xuống tắm ở sông Ni-Liên. Ngài cảm thấy khoan khoái, tinh thần trở lại. Ngài bước từng bước chắc chắn và vững mạnh đến ngồi tại gốc cây Tát-Bát-La và phát nguyện: ỀDù máu ta có khô, xương ta có mục, ta cũng không rời khỏi chốn này nếu ta không tìm được đạo.Ể Một lời hứa và chỉ hứa với mình mà thôi nhưng nó có giá trị quyết định. Ý chí, quyết tâm là hai điều kiện cần thiết để thành công.

F. Ánh Ðạo và Ma Vương:

Ngày thứ 49 của những chuỗi ngày thiền định dưới gốc Ðại-Thọ, từ trán Thái Tử phóng ra những tia hào quang, dấu hiệu của trí giác. Ma Vương hiện thân của tội lỗi, của phá hoại tìm cách quấy phá. Ðủ mọi thứ Ma Vương: Tham, Ái, Nghi, Ngã mạn, Sân hận, Vị kỷ, Phá giới, v.v nhung nguy hiểm nhất là ác quỷ dục tình. Nhưng tất cả không làm cho Thái Tử mảy may xao động.

Ðầu canh năm, cúng với bình minh vùng dậy, trời và người hân hoan chào mừng vị Ðại-Giác-Ngộ: Phật Thích-Ca Mâu-Ni và cây Tát-Bát-La được mang tên là cây Giác-Ngộ, Cây Bồ-Ðề (Bodhi: giác ngộ).

G. Chuyển pháp luân:

Bánh xe được chuyển lần đầu tiên tại vườn Lộc Uyển và năm vị hiền giả do Kiều Trần Như lãnh đạo gồm: Kiều Trần Như, Ác Bệ, Thập Lục, Ca Diếp, Mabanam, Câu Di, Sau đó, hoàng tử Gia Ma cùng với 34 vị quý tộc đến quy y Phật.

Sau khi nhận giáo pháp, 30 vị đệ tử đi khắp nơi để hoằng pháp lợi sanh.

H. Những ngày cuối cùng:

Rời khỏi vườn Lộc Uyển, Ðức Phật với chiếc gậy đường rừng này đây mai đó, đem Giáo pháp của Ngài truyền bá khắp nhân gian, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn, trí thức hay đần độn. Mỗi một lớp tuổi, mỗi một tâm trạng, mỗi một trình độ, Ngài dùng những phương tiện riêng và thích hợp với căn cơ của họ… Ngài cũng không từ bỏ giai cấp hạ tiện – giai cấp Bà Ly – để chấp thuận họ vào hàng giáo hội.

Tám mươi tuổi, thân mòn sức yếu, Ngài nhập niết bàn tại rừng Sa-la, giữa hai cây song thọ. Kim thân của ngài được hỏa táng, xương cốt thành xá-lơị. Xá-lợi ấy được phân chia khắp các xứ. Xá lợi được tôn trí tại các bảo tháp để dân chúng được chiêm ngưỡng.

IV. Những suy nghĩ:

Không như những giáo chủ của các tôn giáo khác, Ðức Phật không phải là sứ giả của thần linh, của Thượng Ðế. Từ thân phận con người Ngài đã chiến đấu và chiến thắng để đạt tới Giác Ngộ. Giáo pháp của Ngài là những phương pháp đưa đến sự Giác Ngộ ấy. Tự Giác Ngộ là do sự tự lực của ta, Ðức Phật cứu độ chúng ta bằng những phương pháp của Ngài. Những phương ấy được diễn đạt Suốt Cả Cuộc Ðời Ngài. Học hỏi ở đời Ngài không phải là học hỏi ở lý thuyết mà là ứng dụng những điều mà Ngài đã ứng dụng. Như thế mới co ích lợi thiết thực, mới đáp ứng được sở nguyện của Ngài.

2. HIỂU MÌNH HIỂU BẠN

“Biết mình, biết người, trăm trận trăm thắng”. Chiến thắng của người Phật tử là sự cố gắng vượt mọi khó khăn, sự khéo léo trong thiên chức để thành công trong sứ mạng xây dựng và phát triển Tổ chức. Nền giáo dục của Gia Ðình Phật Tử dựa trên căn bản giáo lý Phật Ðà, phương pháp giáo dục chú trọng đến sự hướng dẫn những sinh hoạt tâm linh của con người. Bởi vậy là người đã nhận lãnh trọng trách hướng dẫn giáo dục, muốn hoàn thành sứ mạng cần hiểu được mình, hiểu được bạn. Vấn đề hiểu mình hiểu bạn được đặt ra như một điều cần thiết cho người điều khiển.

I. Hiểu Mình

Ai có thể dám quyết đoán rằng mình hiểu được hoàn toàn con người mình? Con người là một vũ trụ tí hon trong cái vũ trụ rộng lớn. Con người lại chứa một nội tâm phúc tạp luôn luôn đối nghịch, mâu thuẩn. Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện đại, con người có thể và làm chủ được ngay cả những sức mạnh bí tàng của vũ trụ mà vẫn chưa hiểu đuợc và làm chủ được chính mình. Nói thế, chúng ta thấy được cái phức tạp, mâu thuẩn đối nghịch thường trực trong con người chúng ta. Nói thế không có nghĩa là chúng ta bất lực hoàn toàn không mãy may gì biết đến con người của mình. trên phương diện tương đối, con người có thể và cố gắng hiểu được những gì trong phạm vi khả năng của mình. Là Ðội/Chúng Trưởng, trước tiên em phải hiểu được khả năng của mình, biết được những điều mình biết, những điều mình chưa biết. Những điều biết thì cố gắng phát triển, điều chưa biết thì cố gắng tìm tòi, học hỏi. hãy xóa bỏ tính tự phụ, tự mãn ở trong các em, vì chính nó là chướng ngại vật trên đường tiến thủ của em. Phải luôn luôn thấy mình kém để cố gắng. Triết gia lừng danh thế giới Socrate đã từng nói “điều mà tôi biết nhiều nhất, chính là điều mà tôi không biết gì”. Phải có cái tinh thần của Socrate mới tiến bộ được. Nhưng điều quan trọng là mình biết được cái không hoàn toàn đó. Biết là nói biết, không biết là nói không biết, như thế là đã biết rồi vậy.

II. Hiểu Bạn

Hiểu bạn trong phạm vi này, tức là đặt thành vấn đề hiểu rõ khả năng tâm lý của Ðội sinh/Chúng viên. Hiểu mình đã khó, hiểu bạn lại càng khó hơn, em phải là người quán xuyến, hiểu rõ khả năng và tâm lý của mỗi Ðội sinh/Chúng viên.

Khả năng: Lúc đức Phật chứng được quả, tìm được chân lý cứu độ chúng sanh, Ngài phân vân không biết trình độ của chúng sinh có thể hiểu đuợc giáo lý cao siêu của Ngài không, phân vân mãi đến khi Ngài nhìn xuống một hồ sen, Ngài thấy trong hồ có những hoa sen đã vươn lên khỏi mặt nước, có hoa đang lấp ló, có hoa đang chìm sâu dưới bùn, trình độ của chúng sinh cũng có những cấp bậc như vậy, và Ngài đã tùy theo căn cơ, trình độ để truyền những giáo pháp của Ngài. Trong Ðội/Chúng của em cũng vậy, tuy chỉ 6 đến 8 em, nhưng trình độ hiểu biết cũng như khả năng phục vụ không giống nhau, đòi hỏi ở em sự quán xuyến, biết được trình độ khả năng để sự phân công phù hợp và sự hướng dẫn có hiệu quả.

Tâm lý: Tâm lý thực dụng của ngành Thiếu: tìm hiểu tâm lý của Thiếu nam, thiếu nữ như đi vào một thế giới mới lạ, kỳ ảo, rộng mênh mông. Trước hết, tuổi thiếu niên, thiếu nữ là tuổi của sống động, của hăng say, bồng bột, tuổi của hào hùng, cuộc sống huớng ngoại nhiều hơn là hướng nội. Thích tham gia vào hoạt động xã hội, thể thao… tính hăng hái trong công việc đưa đến tính háo thắng, một đức tính cần thiết trong sự thi đua, nhưng nếu em không khéo léo sẽ đưa đến sự ganh tỵ giữa các Ðội sinh/Chúng viên, là điều cần tránh.

Thiếu nam, thiếu nữ là tuổi của thời kỳ phát triển cơ thể về mọi mặt, từ thể chất đến tinh thần, tâm lý các em biến đổi đột ngột. Ở tuổi dậy thì, tâm lý các em hết sức phức tạp, có những đam mê kỳ lạ. Theo Pierre Menhousse, thì tuổi thiếu niên ham mê hoạt động đến nỗi quên cả sự mệt nhọc, vì một điều không đâu hoặc có thật, hoặc tưởng tượng, các em có thể cười say sưa, vui sống, nhưng cũng có thể buồn khóc vô cớ. Các em thường có tính ích kỷ, tự đắc, tự đề cao cá nhân mình, tôn trọng danh dự và cũng nhiều tự ái, d chán nản, lắm hoài nghi, hoài nghi luôn cả chính mình. Tính tình biến đổi luôn, lúc thì ham mê hoạt động, thích sống tập thể, sợ cô đơn, hăng hái yêu đời; khi thì buồn chán, muốn xa lánh mọi người, thích sống trong một khung cảnh hết sức quạnh hiu, cô độc. Các em lại có tính tò mò, thích tìm hiểu, phiêu lưu mạo hiểm, giàu lòng thương, v.v.

Sự phân tích dưới đây nhằm giúp người Ðội/Chúng Trưởng hiểu rõ về những vấn đề tâm lý căn bản ở lứa tuổi thiếu niên và áp dụng vào sinh hoạt Ðội/Chúng:

Thiếu Nam:

Bản Tính: Thích hoạt động, thích phiêu lưu, mạo hiểm, hăng hái, bồng bột, ít suy tư, thiên về hướng ngoại, tò mò, có nhiều sáng kiến.

Ðáp Ứng: Với những tâm lý đó, em làm thế nào đáp ứng được những đòi hỏi đựa theo tâm lý của các em, với đôi mắt quán xuyến, em biết được khả năng, trình độ từng em, từ đó phân chia công việc thế nào cho phù hợp, hướng dẫn, giảng dạy đừng vượt quá trình độ lãnh hội của từng em; trong những buổi sinh hoạt hàng tuần, em cố gắng đáp ứng những sở thích của các Ðội sinh/Chúng viên, thường xuyên thay đổi không khí sinh hoạt của Ðội/Chúng bằng những sáng kiến mới lạ có tính cách giáo dục và lành mạnh. Phải khuyến khích và để cho các em được tự do phát triển sáng kiến của mình v.v.

Thiếu Nữ:

Bản Tính: Trái với thiếu nam, bản tính thiếu nữ thì dịu dàng, đằm thắm, thùy mị, kín đáo, nhiều ý tứ, nhiều trực giác, có tinh thần chịu đựng, nhẫn nại, giàu lòng vị tha, đa sầu, đa cảm, thường rụt rè, e thẹn trước đám đông, sống nhiều về nội tâm, thích tham gia những công tác từ thiện…

Ðáp ứng: Là Chúng Trưởng, em phải hiểu rõ khả năng của từng em để phân chia công việc sao cho phù hợp để đạt thành quả tốt đẹp, hiểu rõ trình độ lãnh hội của từng người, công việc huớng dẫn, giảng dạy mới có hiệu quả. Với những tâm lý, bản tính được nêu trên, Chúng Trưởng phải khéo léo trong lúc điều khiển, hay khi áp dụng kỷ luật. Những mẫu chuyện đạo đượm tình cảm, tình nguời, những khung cảnh thơ mộng, êm đềm trong sân chùa, duới gốc cây bóng râm mát thật thích hợp với lứa tuổi thiếu nữ và giúp ích thật nhiều trong việc giảng dạy các Chúng viên.

III. Kết Luận

Nhận lãnh trọng trách hướng dẫn các Ðội sinh/Chúng viên trên bước đường tu học, Ðội/Chúng trưởng phải hiểu mình, hiểu Ðoàn sinh mình, hiểu rõ về khả năng, trình độ, tâm lý, về những khát khao, ước muốn trong phạm vi sinh hoạt, đáp ứng được những đặc điểm trên là phân nhiệm công việc thập phù hợp với khả năng, hướng dẫn phù hợp với trình độ lãnh hội tức là em đã hoàn thành được phần nào sứ mạnh của người Ðội/Chúng Trưởng rồi.

3. HỌP ĐỘI CHÚNG

I. Mở đầu:

Thực ra phải có hai khóa riêng biệt cho Ðội trưởng và Chúng trưởng về cách thức điều khiển một buổi họp Ðội, Chúng. Bởi ứng dụng cùng một môn học cho Thiếu niên và Thiếu nữ vốn đã khác nhau: Tâm lý, tình cảm, và sự đòi hỏi về hiểu biết, hứng thụ Do đó, có khi dùng cách ấy áp dụng cho Thiếu niên thì kết quả, trái lại cho Thiếu nữ thi các em không vui.

Những buổi họp Ðội. Chúng do Ðội, Chúng trưởng điều khiển còn gọi là buổi họp tự trị rất cần thiết vói những mục đích: - Gây tinh thần đồng đội, tạo tình thương cật ruột. - Ôn tập, khai trưởng những điều đã thâu nhận trong các buổi họp Ðoàn. - Hướng dẫn các Ðội, Chúng viên mới vào biết nề nếp gia phong của mình hoặc chuẩn bị cho các em dự thi bậc Hướng Thiện.

II. Chuẩn bị một buổi họp:

Ðội, Chúng trưởng phải có một chương trình họp trước khi họp Ðội, Chúng viên. Ðội, Chúng trưởng phải biết trước mình học gì, chơi gì, bài vỡ, dụng cụ đã dự liệu đầy đủ chưa? Công việc này phải hội ý với Ðội, Chúng phó.

III. Cách thực hiện:

Thời gian: Từ một giờ đến một giờ ba mươi phút. Những chi tiết buổi họp:Lễ Phật hay niệm Phật. Tổ chức Ðội Chúng: Ðiểm danh, kiểm điểm những điều đã dặn dò, thâu nguyệt liễm. Học và chơi: Những đề tài thuộc Phật pháp, hoạt động thanh niên, hoạt động xã hội, sinh hoạt văn nghệ. Kiểm thảo, quyết định và dặn dò của Ðội Chúng trưởng.

Những chi tiết này Ðội, Chúng trưởng phải sắp đặt thành thời gian tùy theo sự quan trọng của vấn đề ghi sẵn vào sổ tay.

Sau đây là một bản mẫu rất đại cương:

Thời gian các môn, đề tài người phụ trách
15 phút Lễ Phật, lễ Ðội  
15 phút ôn lại bài đã học Ðội trưởng
10 phút Tập bài hát mới Họa mi
15 phút Sinh hoạt hát chơi Uỷ viên báo chí văn nghệ
20 phút hoạt động Thảo luận về tờ báo Ðội, chi tiết thực hiện đội phó kiêm
     

IV. Chơi ứng dụng.

Thực hiện: Rất đúng giờ, không đợi ai, cả Ðội Chúng tự trị họp vòng tròn niệm Phật, lễ Ðội Chúng, đọc chương trình, giới thiệu người phụ trách, trao còi, thời gian.

Ðội, Chúng trưởng đồng thời ở bên cạnh người này để nhắc nhở khéo léo, đồng thời điều khiển chương trình, phụ họa với giảng viên để không khí cởi mở, vui vẻ và toàn đội ham thích học hỏi. Do đó luôn luôn Ðội, Chúng trưởng phải hội ý trước với các giảng viên về môn họ sắp hướng dẫn.

Bên cạnh Ðội, Chúng trưởng còn có Họa mi, quản trò (phụ trách hướng dẫn chơi) cho nên phải kịp thời thúc đẩy vai trò nhừng người này hoạt động đúng lúc để thay đổi không khí.

V. Vài yếu quyết Ðội, Chúng trưởng đừng quên:

Công việc của Ðội, Chúng trưởng từ khởi đầu cho đến lúc ra về không lúc nào dừng nghỉ hoặc bỏ lloi Ðội, Chúng. Nhưng cái kho; là đừng khuynh loát co6ng việc của những người đã phân công hướng dẫn Ðội, Chúng. Ðội, Chúng trưởng là người điều khiển chính thức buổi họp, nhưng trực tiếp điều khiển lại là các bạn được phân công; luôn luôn ứng phó với các trở ngại nhưng đừng chen vào vai trò hướng dẫn cuả giảng viên.

Những điều khác cần lưu ý nữa là: -Ðúng giờ: bắt đầu và chấm dứt như giờ đã ấn định. -Phân công đầy đủ dặn trước toàn thể sẵn sàng những vật dụng để học tập. -Luôn luôn có 2 chương trình: ngoài trời và trong phòng để dùng khi mưa nắng thất thường. -Nhận định và tiên liệu những phản ứng toàn Ðội, Chúng để kịp thời thay đổi không khị Tránh uể oải, chậm chạp, bất hoà mất vui. -Biết chấm dứt đúng lúc một trò chơi, một môn học và đừng để buổi học rời rạc.

VI. Kết luận

Ðể một buổi họp Ðội, Chúng có kết quả, Ðội, Chúng trưởng phải biết chuẩn bị đầy đủ, tiên liệu mọi điều, khéo léo phối hợp chương trình đã vạch. Mọi việc đều hội ý trước với Huynh Trưởng của mình, ghi chép những ý kiến cuả Trưởng để thực hiện đồng thời rút kinh nghiệm.

4. Ý NGHĨA TÊN TRẠI

Ý nghĩa tên, mục đích, khẩu hiệu, và luật trại

Mở Ðầu:

Cơ sở hạ tầng và căn bản của GÐPT là Ðội, Chúng và Ðàn. Người điều khiển Ðội (thiếu nam) hoặc Chúng (thiếu Nữ) gọi là Ðội hoặc Chúng Trưởng. Trại để đào tạo Ðội – Chúng Trưởng gọi là Trại Huấn Luyện Anoma – Ni Liên.

I. Ý Nghĩa Tên Trại

Anoma: Anoma là tên dòng sông gắn liền với sự kiện Thái Tử Tất Ðạt Ða bắt đầu cuộc đời tìm đạo. Sau khi nhận thức được sanh lão bệnh tử là những khổ mà con người phải chịu đựng, Thái Tử Tất Ðạt Ða đã lẵng lặng rời bỏ cung điện, rời bỏ cuộc sống vương giả cùng người hầu Xa Nặc thắng ngựa ra đi. Khi đến giòng sông Anoma, Thái Tử Tất Ðạt Ða đã xuống ngựa, cắt tóc trao cho Xa Nặc đem về cung và một mình cất bước đi tìm đạo. Chọn tên Anoma cho trại huấn luyện Ðội Trưởng bởi vì các em cũng bắt đầu bước đầu tiên trên con đường tu học Ðạo giải thoát. Các em bắt đầu nhận lãnh trách nhiệm để tự mình tiến bộ và giúp đỡ người khác tiến bộ. Từ giòng sông Anoma, Thái Tử Tất Ðạt Ða đã chấm dứt cuộc sống xa hoa để tìm sự giải thoát cho muôn loài thì các em cũng sẽ từ bỏ cuộc sống cá nhân vị kỷ để hy sinh, cố gắng hướng dẫn các bạn đồng đội sao cho toàn đội vui sống trong tinh thần lục hòa, xây dựng đoàn vững mạnh và thực hiện được châm ngôn cũng như lý tưởng của Gia Ðình Phật Tử.

Ni-Liên: Còn gọi là Ni Liên Thuyền, tiếng Phạn là Nairanjana, là tên dòng sông gắn liền với sự kiện sa môn Tất Ðạt Ða, rời bỏ cuộc sống tu khổ hạnh với năm anh em Kiều Trần Như và quyết định ngồi tham thiền dưới gốc cây Bồ Ðề cho đến khi chứng Ðạo quả. Sử chép rằng sau sáu năm tu khổ hạnh, một ngày kia sa môn Tất Ðạt Ða đa bị ngất xỉu vì kiệt sức. Nhờ có Tu Xà Ðề dâng sữa mà Ngài tỉnh dậy và nhận thấy rằng lối tu ép xác không đem lại được kết quả mong muốn. Sau đó Ngài đã xuống dòng sông Ni Liên thuyền tắm rửa sạch sẽ rồi chọn một gốc cây Bồ Ðề, rải cỏ làm đệm ngồi và phát nguyện nếu không thành Ðạo sẽ không rời khỏi cây Bồ Ðề này. Sau 49 ngày tham thiền nhập định, Ngài đạt được quả vị Phật. Chọn tên Ni Liên cho trại huấn luyện Chúng Trưởng bởi vì các em cũng bắt đầu bước đi một bước mới trên con đường tu học: con đường nhận lãnh trách nhiệm để giúp đỡ dìu dắt các bạn mình cùng tiến bộ. Từ giòng sông Ni Liên, Ngài đã quyết tâm tham thiền đến đạt được chánh quả thì từ trại huấn luyện này các em cũng sẽ được hướng dẫn để củng cố thêm kiến thức và niềm tin để xây dựng chúng vững mạnh, sống trong tinh thần lục hòa và đem lợi ích đến cho mọi người chung quanh đồng thời góp phần vào việc phát triển tổ chức, thực hiện lý tưởng cao đẹp của mình.

II. Mục Ðích:

Trại đào tạo đội trưởng, đội phó (chúng trưởng, chúng phó) là những người cột trụ của đội, chúng, hướng dẫn các bạn đồng trang lứa trong tinh thần tự trị để cùng giải quyết những vấn đề của đội, chúng cũng như để phát triển đội, chúng. Ðội, Chúng trưởng là những người chịu trách nhiệm về đội, chúng của mình với các anh chị Ðoàn Trưởng, đoàn phó trong những hoạt động của đội, chúng dựa theo chương trình của đoàn. Trại Anoma-Ni Liên sẽ giúp các em hiểu biết thêm về tổ chức của Ðội, Chúng; học hỏi thêm những kỹ thuật điều khiển để có thể là người Ềbiết trước và đi trướcỂ trong đơn vị; củng cố thêm niềm tin của các em vào Giáo Lý Ðức Phật và tổ chức Gia Ðình Phật Tử Việt Nam.

III. Khẩu Hiệu: Tuân

Tuân là tuân theo lời, là nghe theo lời chỉ dẫn, khuyên bảo của người trên. Một đoàn thể có kỷ luật thì đoàn thể đó mới tiến. Người Ðội, Chúng trưởng có kỷ luật thì mới mong làm đội, chúng mạnh bước đường tu học và phục vụ lý tưởng, người đội, Chúng trưởng cần phải tuân hành theo những lời chỉ bảo của các anh chị Huynh Trưởng bởi các anh chị là người đã có nhiều kinh nghiệm. Trong trại, sống với khẩu hiệu ỀTuânỂ các em sẽ tập được một tinh thần kỷ luật tự giác cần thiết cho cuộc sống của các em sau này.

IV. Kỷ Luật Trại:

Ðúng giờ: Người đúng giờ là người tự trọng và lúc nào cũng được người khác nể phục. Trong trại, các em có đúng giờ thì mới khỏi gây phiền hà cho chính mình, cho bạn bè và đạt được kết quả trong việc học tập cũng như sinh hoạt

Lanh lẹ: Là người Ðội, Chúng trưởng em lúc nào cũng phải đi đầu và nhanh nhẹn trong việc thì mới có thể giải quyết được công việc của đơn vị cũng như có đuợc lòng mến phục của bạn. Trong trại, các em sẽ tập sống trong tinh thần lanh lẹ, thái độ sẵn sàng khi học tập cũng như khi sinh hoạt thì mới có thể là người Ðội, Chúng trưởng tháo vát sau này.

Tư cách đúng đắn: Là một Ðội, Chúng trưởng, em phải giữ gìn tư cách đúng đắn của mình để noi gương cho các Ðội, Chúng sinh của mình. Tư cách đứng đắn thể hiện trong y phục gọn gàng, tóc ngắn gọn, sạch sẽ, ăn nói hòa nhã.

Tuân theo cấp trên: Ðể thực hiện được khẩu hiệu ỀTuânỂ của trại, các em cần phải kính cấp trên của mình. Tuân kính không có nghĩa là nghe theo một cách mù quáng mà tuân có nghĩa là vâng lời và kính trọng các huynh trưởng đã bỏ công sức ra dạy dỗ các em. Ngoài ra các anh chị còn là người đi trước có nhiều kinh nghiệm và kiến thức truyền đạt lại cho các em. Nếu là Ðội, Chúng viên em phải tuân kính người Ðội, Chúng trưởng của mình vì đó là bước đầu trong tinh thần kỷ luật tự giác mà em đang thực hiện

V. Kết Luận:

Ðội, Chúng là đơn vị nhỏ nhất trong Gia Ðình Phật Tử. Nếu Ðội, Chúng có kỷ luật vững mạnh đoàn mới mạnh và đơn vị Gia Ðình có thể phát triển được. Các em học tập để trở thành Ðội, Chúng trưởng phải ý thức được sự quan trọng của Ðội, Chúng trong tổ chức và phải biết gắng học hỏi, thực hành để quyết tâm làm vững mạnh Ðội, Chúng của mình, góp phần vào việc phát triển đơn vị Gia Ðình và tổ chức mai sau

5. HÌNH THỨC VÀ HIỆU LỆNH TẬP HỌP

Qua sự tập họp của Ðội/Chúng người ta có thể nhận định được một phần nào nếp sinh hoạt của các em nên cần phải nhanh chóng và có hình thức. Do vậy, người Ðội/Chúng Trưởng phải hiểu rõ những hình thức và hiệu lệnh tập họp, hướng dẫn Ðội sinh/Chúng viên trong Ðoàn biết để những lúc cần, người Ðội/Chúng Trưởng chỉ sử dụng những phương pháp tập họp bằng còi, miệng, tay, chuông hay đèn ra hiệu lệnh thì Ðội/Chúng phải biết tuân theo nhanh chóng và có trật tự.

I. HÌNH THỨC TẬP HỌP

Hình thức tập họp gồm: -Các thế cá nhân -Các thế xếp hàng

A. Các thế cá nhân:

1.Thế nghiêm: Ðứng thẳng, hai tay thẳng theo mình, gót chân chạm vào nhau, hai bàn chân giang ra thành hình chữ V với góc độ 60.

2.Thế nghỉ: Chân phải đứng nguyên tại chỗ, chân trái giang ra độ khoảng 30 cm, hai tay để sau lưng (Ngành Nữ thì hai tay khoanh trước ngực) và giữ im lặng.

3.Thế nghỉ tự do: Như thế nghỉ thường nhưng có thể nói chuyện nho nhỏ

4.Thế nghỉ có gậy: Ðứng thế nghỉ, tay phải nắm gậy đưa thẳng ra theo vai.

5.Thế chào: Ðứng thẳng như thế nghiêm, tay bắt ấn kiết tường.

6.Thế chào có gậy: Ðứng thẳng như thế nghiêm, tay trái đưa ngang bụng nắm lấy gậy và tay phải bắt ấn kiết tường.

B. Cách xếp hàng: (xem phần II, mục C)

II. HIỆU LỆNH TẬP HỌP

Hiệu lệnh thường gồm hai phần: -Dự lệnh: Là lệnh ra trước để Ðoàn sinh chú ý chuẩn bị -Ðộng lệnh: Là lệnh để cho Ðoàn sinh thi hành ngay một động tác.

Hiệu lệnh cần phải dễ phân biệt và được giải thích rõ ràng cho mọi người trước khi phát lệnh.

Sau đây là các hình thức hiệu lệnh thông dụng, tuy nhiên nếu cần, các em có thể sáng tạo nhiều hình thức hiệu lệnh khác.

A. Còi lệnh:

Hiệu còi dùng để cho Ðoàn sinh chú ý chạy đến trước khi dùng thủ lệnh trong các buổi họp đoàn, những khi cắm trại hay du ngoạn, v.v. Người phát lệnh sử dụng còi với những tính hiệu tích, tè (Morse).

B. Khẩu lệnh:

Gồm có Dự lệnh và Ðộng lệnh:

1.Dự lệnh: nói trước cho Ðoàn sinh biết những động tác gì sẽ phải thi hành; dự lệnh phát ra phải chậm rãi và rõ rang dễ hiểu.

2.Ðộng lệnh: phát ra để Ðoàn sinh thi hành ngay một động tác; động lệnh thường phát ra phải mạnh mẽ và rõ ràng.

3.Thí dụ: -Dự lệnh: Người điều khiển nói: Khi anh hô: ỘPHẬT TỬỢ tất cả các em trả lời ỘTINH TẤNỢ và đứng thế nghiêm -Ðộng lệnh: Sau khi đã ra dự lệnh như trên, người điều khiển hô to ỘPHẬT TỬỢ, khi đó Ðoàn sinh sẽ hô to ỘTINH TẤNỢ và đứng thế nghiêm.

C.Thủ lệnh:

Ðuợc phát ra theo khẩu lệnh hay còi lệnh gồm các động tác

1-Tập họp một hàng dọc:

Người điều khiển đưa thẳng cánh tay ra đằng trước, cánh tay quá đầu một chút, bàn tay nắm lại và ngón trỏ đưa lên.

2- Tập họp nhiều hàng dọc:

Người điều khiển đưa thẳng cánh tay ra đằng trước, cánh tay quá đầu một chút, bàn tay nắm lại và đưa hai, ba hay bốn ngón tay ra hiệu tùy thuộc số hàng mình muốn.

3- Tập họp hàng ngang:

Người điều khiển đưa thẳng cánh tay ra phải ngang vai, bàn tay nắm lại.

4- Tập họp hình bán nguyệt:

Người điều khiển đưa hai cánh tay phải lên phía trên đầu, tạo dáng của một vòng cung, bàn tay nắm lại.

5- Tập họp hình chữ nhật:

Người điều khiển đưa hai cánh tay ra ngang vai, tạo thành góc độ 90, bàn tay nắm lại.

6- Tập họp hình chữ U:

Người điều khiển đưa cánh tay phải ngang vai tạo thành góc độ 90 bàn tay nắm lại.

7- Tập họp hình rẻ quạt:

Người điều khiển đưa thẳng cánh tay lên phía trên thành hình chữ V góc độ 60, bàn tay nắm lại.

8- Tập họp hình tròn:

Người điều khiển vòng hai tay trước ngực, hoặc hai tay nắm với nhau và đưa lên cao

6. NGŨ GIỚI

- Một người đã phát nguyện Quy y Tam Bảo, đã phát lòng tin vững chắc về nhân quả nghiệp báo và muốn tránh những điều xấu ác thì nên phát nguyện giữ giới.

- Giới là hàng rào ngăn cản tội lỗi, giúp ta không phạm phải những lầm lỗi thông thường của kiếp người. Giới chính là bức tường thành kiên cố ngăn chận ta đừng đi lạc văo đường ác, giúp ta không rơi vào hố sâu tăm tối của cuộc đời.

- Giới là phao nổi vượt qua bể khổ, là Ngọc an lạc để trang nghiêm pháp thân (Sa Di luật nghi).

I. Ðịnh Danh và Hành Tướng

Giới: tiếng Phạn là Sila. Nghĩa là phòng bị, răn cấm và ngăn ngừa. Giới là những điều răn cấm mà Ðức Phật đã chế ra để ngăn ngừa chúng sanh không phạm phải những việc làm tội lỗi như tướng niệm ác, nói năng chẳng lành, hành động bất chính.

Giới luật Phật chế ra thì rất nhiều, riêng đối với hàng Phật Tử tại gia thì có năm điều gọi là Ngũ Giới hay Năm Giới đó là: không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói sai sự thật, và không uống rượu.

II. Ý Nghĩa Năm Giới:

1. Không Giết Hại: Ðiều răn cấm thứ nhất mà Phật khuyên chúng ta là không được giết hại sanh mạng từ loài người cho đến các loài vật. Sanh mạng có một giá trị quý báu, giết sanh mạng này dể tô bồi cho sanh mạng khác là một điều ác, không hợp đạo lý. Lòng từ bi của Ðức Phật xem mọi loài như con, Ngài không đồng ý cho đệ tử của ngài sát sanh. Bởi vì đang tâm sát hại sanh mạng là lòng độc ác đã cực thịnh, tâm từ bi bị bóp nghẹt. Nhẫn tâm làm cho kẻ khác hay vật khác phải dãy dụa, rên siết, quằn quại khi trút hơi thở cuối cùng là tự giết lòng từ bi của mình, là bóp chết các mầm thương yêu rất qúy báu trong tâm hồn chúng ta. Một người đã thọ giới bất sát thì suốt đời phải giữ trọn vẹn, tự mình không giết, không bảo người khác giết, cho đến không vui, không tỏ ra tán thành khi thấy người khác giết. tuy nhiên vẫn có những trường hợp ngoại lệ mà người đã thọ giới có thể sát sanh mà không vị phạm giới:

a. Vô ý mà giết. b. Theo pháp luật mà giết người, như quan tòa. Theo pháp luật mà kết án tử hình tội nhân. c. Vì chức nghiệp mà giết, như những người thi hành án tử hình. d. Ðể ngăn chận sự giết người mà phải giết người, như giết quân xâm lăng để chúng khỏi sát hại đồng bào; trường họp này, giết người để cứu người là làm việc thiện, là đã giữ giới nghiêm chỉnh.

2. Không Trộm Cắp: Ðể ngăn cấm việc lấy trộm của cải người khác hoặc lấy bằng những thủ đoạn sai trái. Giới này được phân tích như sau

a. Bất Dũ thủ: người ta không vui lòng mà mình cứ lấy b. Biến Trá thủ: phỉnh gạt lừa dối để lấy c. Uy hiếp thủ: dùng thế lực uy hiếp để lấy d. Phi thời thủ: là chưa đúng thời đã lấy, như con lấy của cải của cha mẹ, người công chức tự lấy lương trước để chi dụng … e. Phi Nhân thủ: không phải phần của mình được nhận mà cứ lấy f. Vô Công thủ: không có công sức gì mà cũng nhận. Trong những trường hợp nêu trên người đã thọ giới mà tự mình lấy hoặc bảo người khác lấy hay vui khi thấy người khác lấy đều phạm giới.

3. Không Tà Dâm: Tức là muốn nói về sự dâm dục, phi lễ, phi pháp. Vợ chồng có cưới đủ lễ gọi là chánh, ngoài ra lén lút lang chạ làm việc phi pháp gọi là tà. Nhưng nếu vợ chồng chánh thức mà gần gũi nhau không đúng chừng mực, không phải chỗ cũng gọi là tà. Ðó là nói về mặt thô thiển, vì tệ hơn thì những sự phóng tâm đắc sắc, nghĩ ngợi bất chánh, chơi bời lả lơi cũng thuộc về loại tà dâm. Nếu tự mình làm, hoặc bảo người làm hay thấy người làm mà vui theo đều phạp giới.

4. Không Nói Sai Sự Thật: Có bốn cách: a. Không nói dối, không thêu dệt, không nói lưỡi hai chiều, không nói lời hung ác. b. Nói dối: Không nói thật, chuyện có nói không, không nói có, trái nói phải, phải nói trái, trước mặt thì khen sau lưng thì chê… Ý nghĩ, lời nói, trước sau, trên dưới mâu thuẫn nhau đều thuộc về nói dối. c. Nói thêu dệt: việc ít nói cho nhiều, làm cho người nghe nổi sân, trau chuốt lời nói để làm cho người nghe êm tai mát dạ, say mê đắm nhiễm, hay nói châm, nói biếm để cho người nghe phải khổ sở. Nh?ng lời thêm bớt, văn chương bóng bảy làm cho người nghe phải loạn tâm, sanh phiền não đều gọi là nói lời thêu dệt. d. Nói lưỡi hai chiều: hay nói một cách khác ”đòn xóc nhọn hai đầu” nghĩa là đến chỗ này để nói sấu bên kia, đến bên kia thì hùa về bên kia để nói xấu bên này, làm cho bạn bè đang thân trở lại kình chống nhau, oán thù nhau. e. Nói lời hung ác: là dùng những lời thô tục, cộc cằn, chửi rủa làm cho người nghe phải đau khổ, buồn rầu, sợ hãi…

Với những điều ác kể trên có lẽ chúng ta khó khăn thi hành nghiêm chỉnh trong cuộc sống hàng ngày, song cố gắng tránh làm hoặc ít làm được chừng nào thì tốt chừng ấy.

5. Không Uống Rượu: Tất cả những thứ có chất men làm say người đều không được uống. Chính mình không uống, không nài ép hoặc khuyến khích người khác uống. Hành động nài ép hay khuyến khích người khác uống tội nặng hơn là chính mình uống. Rượu nguy hiểm hơn thuốc độc, một chén thuốc độc ta uống vào chết ngay, nhưng chỉ chết một thân hiện tại chứ rượu uống vào làm mất hạt giống trí tuệ phải chết đi sống lại vô số kiếp. Rượu chính nó không phải là một tội lỗi như bốn giới kể trên, song nó có thể là nhân cho những tội lỗi kia nảy sanh ra. Khi đã uống say sưa thì tội nào cũng có thể phạm được.

Tuy nhiên, người Phật Tử có thể uống một it rượu để chữa bệnh hoặc để chia vui cùng người khác trong các nghi lễ mà không bị phạm giới.

Lúc Phật tại thế chỉ có rượu là chất độc làm hao tổn tinh thần nên ngài cấm không được dùng nhiều vô cớ; nhưng hiện nay thì còn nhiều chất độc khác nguy hiểm hơn rượu, sinh ra nghiện ngập và tác hại nhiều đến trí tuệ như thuốc phiện, cocaine,.. Theo tinh thần của giới này thì cũng nên cấm các thứ đó như đã cấm rượu.

III Tại sao phải giữ giới:

Chúng ta giữ giới không những ngăn ngừa, chận đứng các Ác Pháp, xây dựng một trạng thái tâm hồn không có Ác Pháp trong tự thân để dũng ti?n trên đường giải thoát; mà còn đem lại trật tự, an vui, hòa bình và hạnh phúc cho gia đình, quốc gia và xã hội nữa. Bởi vậy chúng ta giữ gìn năm giới bởi các lý do chính sau đây:

- Ngăn ngừa những nguyên nhân sinh ra tội lỗi. - Bảo tồn hạt giống Trí Tuệ và nuôi dưỡng lòng Từ Bi. - Tôn trọng sự công bằng và sự trung tính trong xã hội. - Tôn trọng Phật Tánh bình đẳng của chúng sanh. - Tránh nhân quả báo ứng oán thù và đau khổ.

7. ĐỨC TIN

Ðức tin của người Ðội Chúng trưởng

I. Mở Ðề:Phàm làm một việc gì muốn thành công và đạt được kết quả, chúng ta phải luôn v?ng lòng tin. Ðức Phật dạy rằng Phật Pháp tuy rộng bao la nhưng nếu vững tin thì có thể hiểu được thấu đáo rõ ràng. Ngài lại dạy, để có lòng tin vững chắc, chúng ta phải có nhận thức sáng suốt và hiểu biết chân chánh. Là một Phật tử, với nhiệm vụ của Ðội Chúng trưởng, chúng ta cần phải hiểu thế nào để có Ðức Tin, và làm sao để duy trì đức tin ấy.

II. Ðức Tin là Gì?Chữ Tin nói theo thông thường là chấp nhận một sự kiện đúng với sự thật của nó. Là Phật Tử chúng ta phải đặt lòng tin của mình cho đúng chỗ, không nên mê tín dị đoan, không nên tin vào những điều sai với chánh Pháp, phản lại khoa học.

III. Ðặt Ðức Tin vào đâu:

A. Tin vào Ðạo Pháp, vào Tam Bảo:

1. Tin vào Ðức Phật vì ngài là một đấng giác ngộ, là một vị Thầy vĩ đại có khả năng dẫn dắt mọi người, mọi loài từ mê ngộ, giúp con người giải thoát được khổ đau, để tìm sự an lạc.

2. Tin vào Ðạo Phật vì đó là Ðạo của sự thật. Giáo Pháp cua Ðức Phật là một chân lý bất biến, một đường lối toàn hảo đã được chứng nghiệm từ bản thân Ngài. Giáo Pháp ấy còn được xây dựng trên một suy luận vừng chắc và nhận thức sáng suốt, không hề đi ngược với khoa học.

3. Tin vào Tăng già (shangha) vì đó là đoàn thể nhừng người xuất gia tu hành thanh tịnh, chân chính. Chúng ta cần tin tưởng vào Tăng già để noi theo những gương sáng, học hỏi và tu tập Ðạo giác ngộ để thoát khổ đau cho mình và giúp mọi người tiến lên trên đường giác ngộ.

B. Tin vào Tổ Chức Gia Ðình Phật Tử:

Gia Ðình Phật Tử là một tổ chức vô vụ lợi có mục đích cao cả xây dựng tuổi trẻ về phương diện tinh thần và vật chất, góp phần vào việc giúp nước và giữ Ðạo. Là Ðội Chúng Trưởng chúng ta phải có lòng tin vào tổ chức cho dù tổ chức có đang trên đà phát triển hay suy yếu. Có như thế chúng ta mới tinh tấn vượt mọi khó khăn để tiếp tục thắp sáng lý tưởng cao đẹp của mình.

C. Tin vào chính mình:

Chúng ta phải có lòng tin vào chính mình, vào khả năng của mình để có thể dũng mãnh tiến bước trên con đuờng tu học và sinh hoạt. Ðức Phật dạy: ỀCác con hãy tự mình thắp đuốc lên mà điỂ. Mọi người chúng ta đều có khả năng giác ngộ và tìm thấy sự thật. Nếu chúng ta không đặt niềm tin vào mình thì chúng ta đặt niềm tin vào ai?

D. Tại sao phải có Ðức Tin?

- Ðức Tin là yếu tố cần thiết để đưa ta đến mục đích. Khi làm bất cứ việc gì ta cần phải có hướng đi. Chỉ khi nào tin chắc rằng mục đích đó sẽ đưa đến kết quả tốt đẹp, ta mới cố gắng tiến tới. Cũng vậy, mục đích của người Phật Tử chúng ta là thoát khỏi khổ đau do tham sân si gây nên. Muốn thoát khỏi khổ đau, ta phải có Ð?c Tin. Tin vào Ðức Phật, vào giáo lý chân thật của Ngài sẽ đem con người đến an lạc và hạnh phúc. Ngoài ra, có tin vào tổ chức chúng ta mới không quản ngại khó khăn để góp phần vào việc xây dựng xã hội tốt đẹp hơn, mang niềm vui lại cho mọi người chung quanh, thực hiện lý tưởng của mình.

E. Làm thế nào để có Ðức Tin?

- Muốn có Ðức Tin, chúng ta phải tu học, thực nghiệm (như ngày xưa Ðức Phật đã trải qua bao thử thách), phải dùng sự suy nghĩ của mình, kiến thức học hỏi để tìm hiểu sự thực và từ đó sẽ phát khởi lòng tin vào Ðạo. Ðồng thời ta cũng tìm hiểu và sinh hoạt với tổ chức để thấy được giá trị thực của tổ chức GÐPT trên con đường sinh hoạt của mình. (tình tương thân tương trợ, giúp đờ lẫn nhau để cùng tiến lên).

F. Làm thế nào để duy trì Ðức Tin?

- Có được Ðức Tin đã khó, muốn giữ gìn Ðức Tin lại càng khó khăn hơn. Vì vậy muốn giữ gìn Ðức Tin, chúng ta phải biết làm bạn với nhừng người bạn tốt, cùng nhau tu học, là việc thiện, và thực hành những điều luật của mình. Các người bạn tốt không cần tìm đâu xa mà là những Bậc Thầy, Cô trong chùa, các anh chị Trưởng, các bạn trong GÐPT… Ngoài ra chúng ta còn cần phải mở mang trí tuệ bằng cách tìm tòi học hỏi không ngừng, tập sống thương yêu, biết giúp đỡ và mang niềm vui lại cho mọi người. Thực hành những điều luật của mình cũng là phương pháp hữu hiệu để duy trì Ðức Tin.

IV. Kết Luận:

Ðức Tin rất quan trọng trong đời sống cua người Phật Tử và của người Ðội Chúng Trưởng. Có Ðức Tin thì cuộc đời ta mới có ý nghĩa, có hướng đi và lý tưởng. Ðức tin còn cho ta sức mạnh vô biên giúp ta vượt qua khỏi nhừng khó khăn chướng ngại để đạt đến mục dích cao đẹp của mình. Ðể có Ðức Tin và duy trì Ðức Tin, chúng ta phải tìm tòi học hỏi và thực hành lời Phật dạy. Trên con đường sinh hoạt GÐPT, niềm tin đôi khi có thể bị lung lay do bởi định luật vô thường biến chuyển; nên để gi? vững niềm tin ta cần phải gần bạn tốt, học hỏi thêm kinh sách, mở rộng lòng từ bi, hỷ xả và luôn giữ tâm mình trong sáng.

8. CẮM TRẠI

Cắm trại Ðội Chúng

I. Nguồn gốc trại

Thời thượng cổ cuộc sống của loài người đóng khung trong một căn nhà nhỏ bé, chật hẹp mà trái lại được lồng vào khung cảnh bao la, hùng vĩ của trời cao, biển rộng, hay nơi đồng ruộng rừng sâu. Chính cuộc sống du mục này đã là một nguyên nhân khiến con người thích những gì phóng khoáng.

Khi cuộc sống tập thể của con người bắt đầu hoạt động trong phạm vi làng xóm, lúc người thanh niên khôn lớn và sau khi am tường võ nghệ, lúc đó người thanh niên bắt đầu đi vào cuộc đời của một hiệp sĩ, đem tài năng diệt kẻ tham ô, trộm cướp, chịu đựng gian khổ, nằm gai nếm mật để mong được toại chí. Thời gian đi như vậy ít nhất cũng vài tuần, những người này gặp nhau cùng với ý nguyện kết bạn với nhau và cùng sống bên nhau trong những ngày gian khổ. Cuộc sống hàng ngày càng chật vật họ càng giúp đỡ lẫn nhau, do đó tình thương yêu tha thiết giữa người và người cũng vì đó mà tăng lên. Ðời sống cao thượng của thiên nhiên đã mang lại cho họ nhiều trí tuệ, họ cần thắng ý nghĩ không cần bị đóng khung trong bốn bức tường hẹp

Rồi với đà văn minh, với ý chí hợp quần, họ đã thành lập những xã hội cỏn con sống chung với những người cùng sở thích, tuy với thời gian quá ít nhưng họ vẫn cố gắng giúp đỡ lẫn nhau, sống một ngày gian khổ và thoát vát trong mỗi việc làm. Từ những sự kiện này, Trại đã có một khởi nguyên

II. Ích lợi của trại:

Từ khởi nguyên như trên, ta thấy trại đã tỏ ra hữu ích về hai phương diện:

A. Ðối với đoàn thể: Ðời sống đã khiến con người thương yêu nhau trong những giờ khổ sở, tìm hiểu được tâm tình nhau trong những lúc gay go, nhờ đó tinh thần Ðội, Ðoàn mới có phần tăng trưởng.

B. Ðối với cá nhân: Trại là trường huấn luyện thanh thiếu niên về thể, trí, và đức dục vì tại chúng ta mới có những thú vui hồn nhiên trong sạch.

Ðời sống ở trại làm cho thân thể tráng kiện, tạo được một sức khỏe dẻo dai, chống đỡ được với sương gió, tay chân quen những trò chơi mạnh dạn, vượt núi băng rừng, sống giữa thiên nhiên các giác quan đều được đem ra tận dụng và kiểm nhận một cách dễ dàng. Cặp mắt được ngắm nhìn cảnh bao la, được quan sát hiện tượng thiên nhiên kỳ lạ, những điều mà chính mình chưa bao giờ thấy. Tai quen phân biệt những âm thanh, tiếng chim hót chiều chiều trên đồi núi làm cho họ nhận được là tiếng chim gì, tiếng xào xạc giữa rừng khô như có con gì đi lại… Mũi quen với những hương vị thiên nhiên, một làn gió thoảng qua mang theo một mùi vị, họ cũng biết nó lại từ đâu và do những gì phát khởi.

Ðời sống gian lao đem lại nhiều đức tính tự tin, nhẫn nại, bằng lòng chịu đựng trên đường đời, giá trị cần lao cũng được nâng cao, nỗ lực gắng công trong những giờ thủ công trại.

Ðời sống ở trại thật ích lợi và cao qúy. Nó làm cho người thanh niên phát triển mọi năng lực tiềm tàng mạnh nhất chưa có dịp phát triển, đời sống trại là đời sống của tự do, cao thượng và thanh liêm.

III. Dự trại:

A. Chuẩn bị: Khi được lịnh đi trại, Ðội Chúng trưởng phải tập họp ngay Ðội Chúng mình để chuẩn bị cho ngày trại được chu đáo, phải cho biết thời gian và địa điểm trại (nếu cần phải nhờ anh chị Ðoàn trưởng xin phép). Thông tin đầy đủ, sau đó phải nhắc lại đồ dùng cá nhân mang theo và chia nhau mang những đồ dùng chung của Ðội Chúng.

B. Tại trại: Ðến địa điểm trại phải cho họp ngay Ðội Chúng, đừng để các Ðội Chúng sinh đi tản mát; nhận được địa điểm đóng trại Ðội Chúng trưởng phải tìm hướng để dựng lều, nhưng trước khi bắt tay vào việc, Ðội Chúng trưởng phải đọc lại bảng phân công, nhắc lại hiệu còi, luật trại.

C. Bế mạc trại: Lúc hạ lều cũng như lúc dựng trại, quanh khu vực trại, phải sạch sẽ, không được lưu lại một vết tích gì, đồ đạc mang theo cũng sắp đặt ngăn nắp, khi về trại cũng có cuộc kiểm thảo, phê bình để Ðội Chúng sinh có thể giải bày những thắc mắc, phải kiểm soát đồ dùng mang đi đừng để Ðội Chúng sinh thiệt thòi về vật chất.

Sau ngày trại, Ðội Chúng trưởng còn có bổn phận để ý coi chừng có Ðội Chúng sinh nào bị bệnh, bị quở mắng không, nếu có phải cho ban Huynh Trưởng biết để lo dàn xếp nếu sức mình không đủ lo tròn.

IV. Tổ chức một trại đội chúng:

Dẫn Ðội Chúng đi trại, tất là ta đã nắm cả toàn Ðội, Chúng; Mọi việc làm của Ðội Chúng, người Ðội Chúng trưởng phải nhận lảnh trách nhiệm. Vì vậy tổ chức một trại Ðội Chúng, người Ðội Chúng trưởng phải có cấp bậc ít nhất là Trung Thiện, hoặc học hết chương trình Sơ Thiện, phải có đủ khôn ngoan và lanh lẹ, có như thế mới có đủ sức bảo đảm Ðội Chúng của mình.

Trại Ðội Chúng phải có sự đồng ý của toàn đội. Ðội Chúng trưởng phải xin phép Ðoàn Trưởng, Liên Ðoàn Trưởng về nơi cắm trại. Trước khi đến một địa điểm, Ðội Chúng trưởng và phó phải đi quan sát địa điểm trước.

Chổ cắm trại gần nơi có nước trong lành, xa thị thành để khỏi bị làm ồn ào trể nãi mất giờ giấc của trại, nơi cắm trại phải là chổ rộng rãi, thoáng khí và gần đường tiếp tế lương thực.

Trại Ðội Chúng phải có mục đích hoặc gây thêm tinh thần, hoặc để thi chuyên môn. Trong buổi họp trước ngày trại phải phân chia công việc, trình bày kế hoạch và không quên kiểm điểm lần cuối.

Phải cho Ðội Chúng sinh có nhiều giờ nghỉ ngơi để ngày mai có sức khỏe tiếp tục. Ðừng để cho Ðội Chúng sinh phí sức trong cuộc vui nào dù nhỏ hay lớn.

V. Ðồ dùng của trại:

A. Ðồ dùng của Ðội Chúng: 1.Nên dùng đèn bão. 2.Toile de tente, phải đủ để đóng và lót trại cho sạch sẽ không được lủng rách hay quá nhớp. 3.Dụng cụ nấu ăn phải đầy đủ. 4.Dụng cụ làm thủ công trại: rựa, cuốc, và dao. 5.Hộp cứu thương: phải đầy đủ thuốc để cấp cứu khi đi đường và trong khi chơi. 6.Linh tinh: ống thổi lửa, cờ truyền tin

B. Ðồ dùng của trại sinh: 1. Ðồ chuyên môn: a) Viết chì, nguyên tử b) Sổ tay c) Dây (tối thiểu 5 met) d) Còi, gậy e) Cờ, địa bàn f) Ðèn bấm

2. Ðồ ngủ: a) Mền, túi ngủ b) Quần áo ngủ c) Vải lót d) Giấy báo (5 tờ)

3. Ðồ vệ sinh: a) Bàn chải, kem đánh răng b) Ca hay ly c) Giấy vệ sinh

4. Ðồ nấu ăn: a) Gạo và đồ ăn sáng b) Gia vị c) Chén, đũa, nĩa, muỗng d) Nồi, xoong để nấu, rổ, muỗng lớn e) Dao nhỏ, diêm, củi, thùng xách nước, ấm nước

5. Một cái trại: a) Cổng trại: Giản dị nhưng hợp nhãn b) Bếp trại: Tối thiểu phải hai bếp. Bếp trại phải đặt nơi khuất gió vào dưới gió đối với liều (để tránh khói vào và tàn bay khỏi cháy lều). c) Nơi đặt bếp phải sạch sẽ và người không phận sự không lai vãng d) Ðường mương: Thoát nước cho mau lẹ và không tạo thành vũng. e) Hố rác: Phải đào gần bếp.

VI. Những đặc tính của trại:

- Ðạo: Từ địa điểm, đồ dùng cho đến hình thức trại sinh - Ðạo vị: Thể hiện tinh thần của người con Phật - Ðầy đủ: Từ đồ dùng, giờ nghĩ cho đến thủ công trại - Sạch sẽ trong toàn khu trại - Tươi: Tô điểm trại bằng tiếng hát giọng cười - Hoặc không ai được nghĩ hay chơi trong khi mọi người đều làm - Lanh: Tháo vác, lanh lẹ trong mọi công việc - Khỏe: Không thiếu ngủ, thiếu ăn, uống, quá mệt, hao tốn thì giờ - Phải có lợi: Về hiểu biết, sức khỏe, tình thân ái, tình đồng đội

Phải làm việc thiện: Ðó là phương tiện để làm tăng niềm vui cho kẻ khác.

9. TINH THẦN ĐỒNG ĐỘI Một đoàn quân dù vũ khí tối tân, chiến thuật tinh vi nhưng thiếu tinh thần chiến đấu thì chắc chắc thất bại. Một đội banh ra quân, mà nội bộ lủng củng có chuyện bất hòa thì làm sao thủ thắng được? Phải có tinh thần đoàn kết nhất trí. Ðội của anh sa sút, Chúng của chị buồn rầu, có thi đua thì bao giờ cũng thua – thì chắc chắn thiếu mất cái tinh thần đồng đội. Vậy, tinh thần đồng đội là ý chí đoàn kết nhất trí của tất cả mọi người cùng hướng về mục đích xây dựng.

I. Làm thế nào để có tinh thần đồng đội

1. Luôn luôn nêu cao uy tín của đội: Với một Ðội sinh/Chúng viên mới, kể cho họ nghe quá trình và truyền thống của Ðội/Chúng, để họ biết Ðội/Chúng mà họ đang sống rất chính đáng. Với các bạn, luôn luôn nhắc nhở từ sắc phục, cử chỉ, nhôn ngữ… đều có thể làm cho Ðội/Chúng bị phạt hay làm mất danh dự của Ðội/Chúng. Bài ca chính thức của Ðội/Chúng, cờ Ðội/Chúng… phải được luôn luôn nhắc nhở và sử dụng đúng lúc. Có thể cảnh tỉnh mọi người bằng cách gây ý thức ta phải vì Ðội/Chúng, với Ðội/Chúng và cho Ðội/Chúng. Ví dụ: Ðội Ca-tỳ-la là Ðội của con người trẻ, hùng, thắng không kiêu, bại không nản; từ xưa đến nay chưa có một Chúng viên nào đứng trước khó khăn mà lại lùi bước bao giờ; hay Ðội sinh/Chúng viên nào làm mất danh dự và uy tín của Ðội/Chúng là đắc tội với mọi nguời…v.v.

2. Tạo tình thân mật giữa các Ðội sinh/Chúng viên: Phải nhớ là “Gia Ðình Phật Tử là xứ sở của tình thương”. Ðội không thể sống, Chúng không thể tồn tại nếu thiếu ttình thương. Ðội/Chúng Trưởng phải tìm cách cho các Ðội sinh/Chúng viên có cơ hội gặp gỡ nhau luôn, từ việc học hành thi cử đến thăm hỏi kết bạn. Khi tất cả hiểu nhau, mến nhau thì việc gì lại không làm được? Ðội/Chúng xích mích, gây gổ nhau luôn là sự thường nhưng phải thương nhau thì mới sống đời với nhau được, và có thương nhau thì mới dìu dắt nhau tu học và làm việc cho Ðội/Chúng mạnh tiến. Làm cách nào cho mọi người trong Ðội/Chúng coi nhau như anh, em, bạn bè thì mọi việc khó khăn đến đâu cũng thành dễ. Khi có người đau ốm, lúc hữu sự, phải gần nhau và giúp đỡ cho nhau. Ðội/Chúng Trưởng thường bị cô độc, nếu không sống gần gũi với các bạn mình.

3. Mọi việc đều có tổ chức: Người Ðội/Chúng Trưởng cần nắm vững tình hình của Ðội/Chúng và của từng cá nhân Ðội sinh/Chúng viên để dễ dàng sắp xếp công việc, phân chia nhiệm vụ nhằm tránh mọi sự khủng hoảng, xích mích, hay dẫm chân lên nhau khi làm bất cứ một công việc gì. Cần phải có kế hoạch rõ ràng, thực hiện theo từng bước một và sau mỗi lần như vậy cùng ngồi lại để kiểm điểm và tìm ra những phương hướng thích hợp để phát triển Ðội/Chúng.

4. Ðội/Chúng phải luôn luôn vui vẻ để hấp dẫn mọi người: Ðội nào hùng hồn, Chúng nào ca hát vang trời, làm việc thật hăng say, là làm cho các chú Oanh Vũ thèm lên sống với các anh chị lắm đấy. Nên nhớ, ai cũng cần có niềm vui để sống yêu đời. Hạn chế tối đa các việc gây gỗ, trể hẹn, thất hứa, thiếu thành thật. Nhưng cũng cần chú ý đừng để cuộc vui quá lố và nên để cho tất cả cùng vui bằng những lần đi ăn, xem phim chung…v.v. Ðừng họp chỗ tối, ngồi quá lâu làm mệt mõi, dễ buồn chán, tránh sự làm việc đều đều tuần nào cũng như tuần ấy. Sinh hoạt Ðội/Chúng phải thật hoạt náo, chạy nhảy, ca hát thật to, quay vòng tròn thật nhanh lẹ và trò chơi vui thú là những yếu tố tạo sự chú ý và hấp dẫn mọi người.

5. Công bằng và thực tâm: Ðội/Chúng Trưởng phải cố gắng thực hiện công bằng với mọi người. Sự bất công là mầm móng khiến Ðội sinh/Chúng viên bỏ Ðội/Chúng đấy. Thương mến như nhau, xử sự đẹp với nhau và phải nhớ rằng muốn sống đời với nhau, Ðội/Chúng Trưởng phải:

Nghĩ đến tánh tốt của nhau

Thương mến nhau

Thành thật, không bao giờ giả dối

Tha thứ

6. Kỷ luật: Trong một Ðội/Chúng, tinh thần kỷ luật là điều quan trọng cần phải luôn nhắc đến dựa trên tinh thần căn bản của giáo lý Phật giáo, một nền giáo dục chú trọng nhiều về tình thương và sự cảm hóa. Người Ðội/Chúng Trưởng có nhiệm vụ đôn đốc, hướng dẫn các Ðội sinh/Chúng viên tinh thần kỷ luật tự giác đúng mức, gây ý thức về sự liên hệ giữa danh dự và kỷ luật, hết sức tế nhị và khéo léo giúp các em tự nhận lỗi lầm và sám hối. Ðiều này đỏi hỏi người Ðội/Chúng trưởng phải hiểu rõ tâm lý của từng Ðội sinh/Chúng viên để sự áp dụng kỷ luật được phù hợp và có hiệu quả tốt đẹp.

II. Kết luận

Tóm lại, nếu Ðội/Chúng một lòng, một dạ thì dù đào núi, lấp sông cũng không phải là chuyện khó, khắc phục mọi khó khăn để bảo vệ cho kỳ được tinh thần đồng đội. Ðội/Chúng là hình thức, tinh thần là cốt yếu để dìu dắt Ðội/Chúng của mình.

10. KỶ LUẬT ĐỘI CHÚNG

I. Mở Ðầu:

Từ khi loài người sống thành bộ lạc, đoàn thể,.. thì vấn đề kỷ luật cùng được đặt ra để duy trì trật tự, tạo nề nếp tôn ti cho đời sống tập thể và vấn đề kỷ luật được xem như sức mạnh của đoàn thể.

II. Kỷ Luật Trong Gia Ðình Phật Tử:

Gia đình Phật Tử là một tổ chức giáo dục dựa trên căn bản giáo lý Phật Ðà, một nền giáo dục chú trọng nhiều về tình thương và sự cảm hóa nên vấn đề kỷ luật đặt ra không mang nhiều tính chất khắc khe của nó.

“Con người là nơi nương tựa duy nhất cho chính mình”. Ðạo Phật tin tưởng tuyệt đối vào khả năng con người, vấn đề kỷ luật trong đời sống tập thể, tôn trọng tuyệt đối kỷ luật trong tinh thần tự do hoàn toàn của con người. Kỷ luật trong Gia Ðình Phật Tử thoát khỏi tính cách bắt buộc tuân hành mà nó mang tính chất đặc thù của sự tự giác. Ðạo Phật là đạo của giác ngộ. Người Phật Tử phải có tinh thần tự giác, tự mình thú nhận lỗi lầm của mình, chỉ cho bạn mình biết những lỗi lầm đã vi phạm trong tinh thần xây dựng và cảm hóa. Tinh thần tự giác và giác tha phải thể hiện trọn vẹn trong người Phật Tử.

Trong phạm vi nhỏ bé của một Ðội, một Chúng, tình thương là sự giúp đỡ phải được thể hiện đầy đủ. Là Ðội, Chúng trưởng em có bổn phận hướng dẫn dìu dắt các em trong tinh thần của người anh, chị. Em phải hướng dẫn các em đến tinh thần kỷ luật tự giác đúng mức, gây cho các em ý niệm về sự liên hệ giữa danh dự và kỷ luật. Khi các em đã ý thức và tôn trọng kỷ luật của tổ chức, của cá nhân thì vấn đề kỷ luật không cần thiết nữa. Vì lẽ khi đã biết tôn trọng danh dự của đoàn thể thì trật tự của đoàn thể được vãn hồi. Em làm thế nào để xóa bỏ ý niệm tôn trọng kỷ luật vì sợ bị trừng phạt ở các em Ðội, Chúng sinh. Em hãy xóa bỏ tính cách chỉ huy ở nơi mình. Sự chỉ huy dành kỷ luật như một bùa phép để buộc người khác phải tuân theo, phải sợ mình. Em hãy tạo lấy tư cách của một người anh, người chị biết thương yêu dìu dắt các em, một hướng đạo viên trên đường tu học hơn là một vị chỉ huy.

III. Áp Dụng Kỷ Luật:

Như trên đã nói kỷ luật trong Gia Ðình Phật Tử có tính cách cảm hóa hơn là trừng trị, em có thể dùng một vài biện pháp nào đối với những đoàn sinh để giúp cho sự hướng dẫn, cảm hóa được hiệu quả, nhưng điều cần thiết là em phải hết sức tế nhị, hiểu rõ tâm lý các em, áp dụng kỷ luật một cách hết sức bình đẳng.

Trong buổi họp Ðội, Chúng em có thể khéo léo hướng dẫn các em tự nhận tội lỗi lầm, rồi hướng dẫn các em đến trước điện Phật sám hối nh?ng lỗi lầm đã vi phạm. Hoặc nếu các em phạm lỗi nhưng chưa thấy được lỗi, em có thể chỉ dẫn, hết sức tế nhị đừng để cho các em có ý nghĩ là mình chỉ trích trước số đông hoặc đừng nên gây sự tự ái mà con người vốn chưa dứt bỏ được.

Em có thể gọi riêng từng em một để cho em đó biết lỗi lầm đã vi phạm rồi hướng dẫn các em đó sám hối lỗi lầm (trường hợp này thường được áp dụng cho các em mới vào Ðoàn).

Em có thể cảnh cáo trước Ðội, Chúng sinh vi phạm kỷ luật nhiều lần, trường hợp này có thể dễ gây tự ái nếu em không khéo léo, em phải tỏ ra nghiêm khắc khi cảnh cáo nhưng cũng tỏ ra hết sức cởi mở và bao dung.

Nếu không còn biện pháp nào nữa em có thể đưa lên anh chị trưởng.

IV. Kết luận:

Tóm lại, kỷ luật trong Gia Ðình Phật Tử là kỷ luật có tác dụng của sự cảm hóa hơn là trừng phạt, đòi hỏi ở ý thức hơn là sợ sệt. Ðội, Chúng trưởng phải là người anh, người chị luôn lo lắng chỉ vẽ cho các em, phải tiên phong thể hiện tinh thần kỷ luật tự giác và tôn trọng danh dự của Ðội, Chúng nói riêng và tổ chức nói chung, phải hết sức tế nhị và hiểu rõ tâm lý cuả từng Ðội, Chúng sinh để sự áp dụng kỷ luật được phù hợp và có kết quả tốt đẹp.

10. SINH HOẠT VÀ TỔ CHỨC ĐỘI/CHÚNG TỰ TRỊ

I. Tinh Thần Ðội, Chúng Tự Trị:

Ðội Chúng Tự Trị là một phương pháp giáo dục hữu hiệu để cải thiện đức tính áp dụng trong phạm vi sinh hoạt của đơn vị ngành thiếu. Tinh Thần căn bản của nó là đào tạo cho mỗi người biết tự mình góp sức vào việc xây dựng một Ðội, một Chúng. Tự mỗi người ý thức được rằng mình là một phần tử không thể thiếu của đội chúng, luôn luôn cố gắng để đội, chúng vững mạnh.

II. Ứng Dụng:

Các đội chúng trưởng dùng tinh thần căn bản của đội, chúng trưởng để xây dựng một tình thương ruột thịt trong đơn vị của mình để tạo toàn thể ý thức tự cường tự chủ. Công trình cần nhiều ngày, nhiều tháng có khi đến nhiều năm nuôi dưỡng, huân tập mới có.

Nhưng trước tiên, điều cần thiết là các đội, chúng trưởng phải có được những buổi họp tự trị ngoài các buổi họp đoàn. Huynh Trưởng có thể góp ý kiến với các em, giúp đỡ các em nhiều điều. Các em cũng sẽ có: a. Những buổi lễ Ðội, Chúng riêng biệt, những buổi lễ cẫu an, cầu siêu cho các bạn đồng Ðội, Chúng và thân nhân. b. những ngày trại riêng biệt mà anh chị em sống với nhau thật gần gũi, thương yêu. c. Một căn phòng êm ái của mình gọi là góc đội, góc chúng để sắp đặt trang hoàng theo đội, chúng mình như một bàn học nhỏ nhắn ở nhà. d. Một cơ cấu tổ chức phân công hợp lý mọi việc để cùng gây một mức tiến lên liên tục cho cái xã hội tý hon của mình trong Ðội, Chúng. e. Một gia tài nho nhỏ có lều trại, có cái này cái nọ gọi là khí mảnh cộng đồng…

Tất cả đó, đứng riêng ra, Ðội, Chúng của các em không hề bở ngở mà góp lại thành Ðoàn, thành

Gia Ðình sẽ tạo nên sức mạnh vững chắc cho phong trào.

Muốn tạo được những điều kiện cần thiết ấy, Ðội, Chúng trưởng phải biết tổ chức Ðội, Chúng mình một xã hội nho nhỏ biết điều hợp cho hoạt động Ðội, Chúng cùng tiến với hướng đi của đoàn mà vẫn có sắc thái riêng.

III. Tổ Chức Ðội Chúng:

A . Ðội Chúng: Các em được giao một nhóm nhỏ để điều khiển gọi là Ðội, Chúng. Những người này là chị em hay anh em với các em, em có bổn phận kết thân và hướng dẫn theo sực chỉ bày của trưởng để cùng nhau học hỏi, thướng thiện

Như vậy chúng ta gọi Ðội hay Chúng là một đơn vị hoạt động của ngành thiếu, trong đó từ 6 đến 8 anh em, chị em biết hòa thuận, thương yêu và liên hệ với nhau như những bộ phận của cơ thể.

B. Ðội Sinh, Chúng Viên: Những người bạn cùng sinh hoạt trong Ðội, Chúng của các em do huynh trưởng giới thiệu đến, đưa ở Oanh Vũ lên và bạn bè của các em bên ngoài do chính các em xin anh chị trưởng, xin bác gia trưởng đem vào.

C. Bàn Chia Công Việc: Khi có đông một số anh chị em rồi, Ðội Chúng trưởng phải phân chia cho họ cùng làm, hướng dẫn hay giúp trưởng hướng dẫn họ cùng học.

Trong sinh hoạt tự trị Ðội Chúng buồn nhất là ôm việc, cái gì các em cũng làm, cũng lo, bạn của em sẽ buồn chán và bỏ em tức khắc. Ai ôm nhiều thì rớt nhiều.

Tuy vậy, phân chia công việc hợp chỗ, hợp lý là cả vấn đề khó khăn. Phần này trong bài nghệ thuật điều khiển các em đã thấy, phải hiểu biết từng Ðội sinh, Chúng viên để điều khiển, chia việc cho đúng.

Ðại khái các chức vụ và công việc phải làm của Ðội Chúng là: -Chức vụ Ðội Chúng trưởng -Chức vụ Ðội Chúng phó -Chức vụ thư ký -Chức vụ thủ qũy, -Chức vụ liên lạc. -Công việc sưu tầm đồ chơi của quản trò. -Công việc sưu tầm bài hát của họa mi. -Học hỏi, tìm hiểu về các môn (ủy viên kỹ thuật). -Tìm hiểu về Phật Pháp (ủy viên Phật Pháp). -Nghiên cứu về trại, tiện nghi, lửa trại (ủy viên trại). -nghiên cứu ăn uống tại trại, làm bếp (hỏa đầu vụ). -giữ gìn vật dụng Ðội, Chúng (ủy viên khí mảnh). -Vân vân…

Thông Thường Thì: -Những em tháo vát có sáng kiến biết sống hòa đồng … có thể giúp em làm Ðội Chúng phó. -Những em thích viết văn, cần cù, sống đời sống bên trong, có thể nhờ việc thư ký. -Em có tánh cẩn thận không tiêu phí nhờ làm thu quỹ. -Em nào biết giữ gìn, bảo vệ đồ dùng của mình có thể giao làm uỷ viên khí mảnh. -Em nào hay nghịch, nói chuyện nhiều, lanh lẹ, vui tính, biết văn nghệ có thể giao cho việc quản trò và họa mi Ðội, Chúng. -Những công việc khác em dễ tìm hiểu để cắt đặt, như ủy viên cứu thương, kỹ thuật, trại … -Riêng trong các buổi họp, em có thể giao còi trực thời gian họp Ðội, Chúng cho em nào thường có tính giãi đãi, chậm, hơi lười, việc gì cũng hẹn ngày mai … -Từ những diều đại cương này các em sẽ có nhiều sáng kiến bổ túc, nhưng điều quan trọng này đừng quên : Làm việc gì cũng phải hỏi trước ý kiến anh chị trưởng của mình cả.

D. Hành Chánh & Sổ Sách Ðội Chúng: * Liên Lạc: Các em có một cấp liên lạc là: trực tiếp với đoàn. Liên lạc trực tiếp với anh chị trưởng là vì việc riêng của em, trong phạm vi liên lạc hành chánh, mọi điều đều phải có giấy tờ.

Thí dụ: em tổ chức du ngoạn, phải làm đơn, làm chương trình, thơ xin đất, giấy xin phép cha mẹ cho Ðội Sinh, Chúng viên … nạp lên đoàn trưởng trước hai tuần.

* SỔ SÁCH ÐỘI CHÚNG: 1.Ðội Phả, Chúng Phả: gồm hai phần, Phần đầu là danh sách tất cả Ðội Chúng viên theo thứ tự thời gian vào đoàn. Dành chừng mười trang tập vở 100 trang, bìa cứng. a. Mẫu:

STT Số DB/GÐ Số DB/BHD Họ và Tên Pháp Danh Ghi Chú
           

Phần thứ hai Ðội phả, Chúng phả có 3 đoạn: a. Lý Lịch: Họ và tên ngày sinh Chánh quán Học lực hay nghề nghiệp Ðịa chỉ nghề nghiệp phụ huynh Pháp danh đoàn sinh ngày quy y Bổn sư hiệu

c. Thành Tích Học Tập: Vượt bậc Hướng Thiện ngày: Vượt bậc Sơ Thiện ngày: Vượt bậc Trung Thiện ngày: Vượt bậc Chánh Thiện ngày:

d. Thành Tích Ðặc Biệt:

2. Nhật ký Ðội, chúng:

Một cuốn sổ trắng để ghi chép, tường thuật những buổi sinh hoạt đặc biệt của Ðội, Chúng như các cuộc trại, Ðội tự trị, ngày đi của Chúng, lễ lượt của Ðội, Chúng …, ý kiến của khách thăm Ðội Chúng cũng ghi vào đây.

3. Sổ sinh hoạt:

Một cuốn sổ bìa cứng, chừng 300 đến 400 trang, gồm các phần sau đây: (xem mẫu phía dưới)

a. Ðiểm danh: Ghi ngày vào từng cột, em nào vắng không xin phép ghi chữ V vào cột tương ứng, nghỉ vì bị phạt ghi chữ P, nghỉ có xin phép ghi chữ X.

b. Phần Khí Mảnh: Ghi tất cả dụng cụ sở hữu của Ðội, Chúng, số lượng, trị giá, ngày thu nhập, tình trạng lúc thu nhận, do ai, phế thải ngày, lý do phế thải, do buổi họp nào giám định và quyết định …

Số Thứ Tự Tên vật dụng Giá đơn vị Số lượng Ngày nhận Tình trạng lúc nhận Do ai tặng Lý do phế thải Ngày phế thải Theo buổi họp ngày Ghi chú đặc biệt
1- Cờ Ðội $10 01 10/09/99 Mới Ðoàn tặng        
2-             Mục và rách 10/9/92 9/9/92 Bán lại $5
3-                    
4-                    

c. Biên bản buổi họp: Biên Bản Phiên Họp Thường Kỳ (hay bất thường)

STT Họ & Tên Pháp danh (ngày/tháng/năm) (ngày/tháng/năm) (ngày/tháng/năm)
1-     X    
2-     P    
3-     H    
4-          

Ngày …………………. tại ……………………..

* Họp Ðội, Chúng lúc giờ, ngày tại gồm có (kể tên Ðội sinh, Chúng viên, thư ký bao giờ cũng ghi sau cùng, ai có tên ghi sau thư ký là người vào trễ)

Mục đích (thường kỳ hay bất thường kỳ, bàn về …)

Nghị sự: ghi các điều đã thảo luận và biểu quyết tuần tự thời gian, gọn và rõ ràng, đúng đắn.

hồi hướng công đức lúc … giờ, ngày nói trên với đầy đủ thành phần trên (hay thiếu ai vì lý do …) sau khi không còn gì để bàn cải nữa,

Chủ tọa Thư Ký

(ký tên) (ký tên) d. Thu Chi: (1 trang cho một tháng, 12 trang cho 1 năm sinh hoạt). Cuối năm làm 1 bảng tổng kết. Tháng 01 năm 2000

Ngày Tháng Khoản THU – CHI Số tiền THU Số tiền CHI Số tiền còn lại Ghi chú
  Tiền còn lại tháng trước —– —– 800,00  

02/01

Mua giấy làm bông —– 50,00 750,00  

06/01

Gây quỹ (làm bánh) 100,00 —– 850,00  

15/01

Mua giây làm gút —– 20,00 830,00  
  TỔNG KẾT 100,00 70,00    
  NGƯỜI KIỂM SOÁT: anh Ðoàn trưởng Ngày - Ký tên       Số tiền còn lại là 830,00

Bảng Tổng kết THU CHI trong năm 2000

Tháng Số tiền THU Số tiền CHI Số tiền TỒN Ghi chú
01/2000        
02/2000        
…….        
……        
Tổng kết        

e. Ghi văn thư đến: Phần nhiều Ðoàn thông tư cho Ðội, chúng bằng sổ thông tin, nên Ðội, Chúng cần ghi chép lại trong sổ văn thư của mình. Mẫu:

Ngày và số đến Nơi gởi văn thư Ngày và số văn thư Nội dung văn thư
      (sao lại hay ghi tóm tắt)

4. Sổ thông tin:

Vở 100 trang đóng trên một bìa nửa cho dầy, lâu rách. Ghi từng thông tư cho Ðội sinh, Chúng viên mình. Cuối cùng lúc nào cũng ghi tên toàn Ðội, Chúng để những người này sau khi xem ghi vào sổ tay riêng sẽ ký vào.

5. Kẹp Lưu trữ linh tinh:

Tất cả giấy tờ, hồ sơ luân lưu đều dán vào đây theo thứ tự thời gian. Mọi sổ sách do phần hành nhặt tu, nhưng Ðội, Chúng trưởng phải kiểm soát và cất giữ tại Ðoàn quán, Ðội quán hay Chúng quán để khỏi thất lạc.

—————————————————————

Ghi chú: - SỔ ÐỘI/CHÚNG PHẢ và SỔ SINH HOẠT: do Ðội Chúng Trưởng và phó nhật tu. - SỔ NHẬT KÝ và SỔ KẸP LƯU TRỮ: do thư ký và các nhân viên liên hệ nhật tu. sổ tài chánh thu chi có thể lập riêng trên vở 50 trang. - SỔ THÔNG TIN: luân phiên phụ trách liên lạc, nhưng thông tư do Ðội Chúng viên.

Lúc nào Ðội Chúng cũng có một số tiền để dành dùng vào những việc cấp bách chưa đóng kịp. Số bạc này do thư ký giữ và báo cáo cho toàn Ðội Chúng biết hàng tháng.

Mọi chi tiêu đều do quyết định của toàn Ðội, Chúng căn cứ trên biên bản họp Ðội, Chúng mà thu quỹ xuất chi. Không tự tiện hay theo lệnh của một người nào.

11. BÁO CHÍ

I. Khái Niệm Mở Ðầu:

Ngoài các mục Phật pháp, chuyên môn…Ở Gia Ðình Phật Tử còn chú trọng đặc biệt vấn đề huấn luyện cho đoàn sinh về văn nghệ. Văn nghệ gồm nhiều bộ môn: Ca nhạc, kịch vũ và báo chí. Vấn đề chúng ta sẽ bàn luận là ở đây là báo chí. Chính ở tờ báo, các em sẽ ghi lại những kỷ niệm ấu thơ, những mẩu chuyện vui buồn ở trại. Những bài thơ làm trong cuộc du ngọan. Những tâm sự trìu mến và thành thật, phản ảnh những suy tư của chính các em.

Tờ báo lại phản ảnh sự sinh hoạt của Ðội, Chúng. Phát triển nguồn cảm hứng qua các loại thơ, truyện, tùy bút, ca dao, hò vè… Nơi đây là tiếng nói trung thực của các em, Ðội chúng mình. Báo chí còn là phương tiện đưa những bài học lồng vào mục đích nhắc nhở nhau nên làm điều lành tránh điều dữ.

II. Giới Thiệu Tổng Quát:

Một tờ báo có hai phần: Hình thức và nội dung.

A. Hình Thức: Có nhiều hình thức như nhựt báo, tuần báo, bán nguyệt san, nguyệt san, nội san, đặc san.

Về hình thức, nhựt báo có trang lớn ghi tin tức hàng ngày nội dung không nhứt định (…..) Tuần san, bán nguyệt san, nguyệt san là một quyển báo mỏng, trong đó đủ các tiết mục, đủ loài bài. Ðặc san, giai phẩm là những tờ báo bất định kỳ (….)

B. Nội Dung: Nội dung một tờ báo có hai phần: - Ðể tuyên truyền - Ðể khảo cứu

Nhật báo ghi lại những biến cố trong một ngày, những tin tức vặt, cấp tốc, có tính cách nhất thời. Tuần báo, bán nguyệt san, nguyệt san được độc giả xem, nghiên cứu kỹ càng hơn.

Trong Gia Ðình Phật Tử chúng ta nên chọn loại báo nào thích hợp với môi trường sinh hoạt của các em. Báo tường (bích báo) vừa thích hợp với trình độ hiểu biết của các em vừa có tính cách kích thích sự tìm hiểu của tính trẻ hay tò mò. Chúng ta đã có một khái niệm tổng quát về báo chí. Bây giờ hãy đi vào vấn đề: ỀBáo Ðội ChúngỂ

III. Báo Ðội, Chúng:

Là tiếng nói cuả Ðội Chúng. Là nơi để các em trao đổi tâm tình, cùng là nơi để các em tập làm thơ, viết văn. Ðã là Phật Tử, báo chí của chúng ta phải đượm màu sắc đạo vị. Phải hướng theo những tiêu chuẩn xã hội, lành mạnh, vì đạo.

12. THỦ CÔNG

A. Căn bản tư tưởng về thủ công:

1. Con người: Siêu đẳng vật với bàn tay sáng tạo. 2. Giác quan nhạy bén, khối óc thông minh, sáng tạo, năng lực lao tác. 3. Phật giáo: Ðề cao làm việc bằng tay chân.

B . Hiện tình giá trị môn thủ công:

1. Các khoa cử đã quan niệm sai lạc về môn thủ công. 2. Máy móc phát triển làm cho con người lười biếng sử dụng tay chân. 3. Tình trạng chiến trang, ngoại viện làm tiểu công nghệ ngưng trệ

C. Ích lợi của môn thủ công:

1. Về thực tế: Luyện khéo tay, dự bị nghề tay chân và sự phát triển cho ngành tiểu công nghệ sau này. - Biết sử dụng những vật liệu sẵn có ở nhà, ở chùa tự chế và tu sửa các đồ dùng cho đỡ tốn tiền - Tạo những tác phẩm giá trị cho Ðội, Chúng và Gia Ðình

2. Về đức dục: Yêu quý, tôn trọng nghề lao lực, sản phẩm thủ công - Luyện các đức tính: trật tự, sạch sẽ, cẩn thận, nhẫn nại trong khi làm việc

3. Về tinh thần: - Luyện nhiền trí năng: óc quan sát, suy nghĩ, hoạt động có phương pháp và nhất là óc sáng tạo

D. Kết luận:

Thủ công là một môn quan trọng và rất hữu ích trong mọi công việc hàng ngày ở Gia Ðình cũng như ở Ðội, Chúng, Ðoàn. ỀTrăm tay hay không bằng tay quenỂ. Các em cần phải thực hành thường xuyên mới mong sau này tạo được những vật dụng ích lợi thiết thực cho đời sống

13. GÓC ĐỘI CHÚNG

I. Góc Ðội, Chúng

A . Góc Ðội Chúng là gì? Là một phạm vi riêng biệt được phân chia trong Ðoàn Quán cho Ðội Chúng. Tại đó em trình bày sức sống, kỷ niệm đã qua và hiện tại cuả Ðội Chúng.

B . Vị trí: Góc Ðội Chúng, có thể trình bày tại một góc của đoàn quán hay tại tư gia của các em trong Ðội Chúng.

C . Mục đích và ích lợi: Góc Ðội Chúng là nơi khai thác khả năng của Ðôi sinh, Chúng viên, là nơi lưu giữ sức sống liên tục của một Ðội Chúng. Có góc Ðội Chúng, Ðội sinh, Chúng viên mới thấy quyến luyến, mới kích thích được óc sáng kiến và mới tạo dựng được tinh thần thiêng liêng để tạo dựng Ðội, Chúng.

D. Trình bày góc Ðội, Chúng: 1. Góc Ðội, Chúng và những kỷ vật mà Ðội, Chúng đã gặt hái thành công 2. Tranh ảnh đạo, đời. 3. Những tác phẩm điêu khắc, hội họa, thủ công. 4. Báo chí, các bản chuyên môn, bản sưu tập …

Cần trình bày cho đẹp mắt và phải thay đổi cho khỏi nhàm chán.

E. Bổn phận đối với góc Ðội, Chúng: 1. Giữ gìn săn sóc. 2. Phong phú hóa góc Ðội, Chúng bằng những tác phẩm mới. 3. Xem góc Ðội, Chúng như là linh hồn của Ðội, Chúng.

II. Kết Luận:

Góc Ðội, Chúng là phản ảnh tinh thần, sự sinh hoạt, sự khéo léo và óc sáng kiến của Ðội Chúng.

14. NGHÊ ĐỘI CHÚNG (Chức năng và nhiệm vụ Ðội Chúng Trưởng)

I. Mở Ðầu

“Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”. Trên đời này có không biết bao nhiêu nghề, mỗi người tự chọn lấy một nghề phù hợp với khả năng, thiên chức của mình. Ðiều khiển, dìu dắt một Ðội/Chúng vững mạnh theo đúng chương trình của tổ chức không phải bất cứ ai cũng làm được mà phải đòi hỏi ở người điều khiển một tinh thần, một khả năng chuyên nghiệp. Cho nên khi chọn nghề, Ðội/Chúng Trưởng cần phải thận trọng đắn đo vì:

- Ðội/Chúng Trưởng cũng như Ðoàn Trưởng có bổn phận nhắc nhở và dắt dìu Ðội sinh/Chúng viên trên đường tu học. - Thực hiện nhiều công việc được Ðoàn giao phó. - Ðội/Chúng Trưởng là người then chốt của Hàng Ðội Chúng Tự Trị.

II. Hệ Thống Tổ Chức Ðội/Chúng

Ðội/Chúng là cơ sở căn bản của Tổ Chức Gia Ðình Phật Tử, gồm một số người nhỏ sít sát tuổi nhau, cùng làm việc, cùng vui chơi, cùng theo kỷ luật và cùng chung bổn phận. Mỗi Ðội/Chúng điển hình gồm có 8 em: Ðội/Chúng Trưởng, Ðội/Chúng Phó và 6 Ðội sinh/Chúng viên, mỗi em giữ một công việc của Ðội/Chúng.

III. Học Nghề:

Hướng đi: Ðường đi thật d nhưng tìm một phương thức nào đó để đi cho khỏi lạc hướng, không vướng víu, không bị cám dỗ mới khó. Là Ðội/Chúng Trưởng, sau lưng mình còn biết bao con mắt trông theo, hoặc tìm một vẻ đẹp, hoặc xoi mói, hoặc thán phục. Vì thế, người Ðội/Chúng Trưởng phải có một hướng đi chắc chắn từ tư tưởng, nội tâm đến việc làm, cần phải có đức tin tuyệt đối:

- Tin ở Ðức Phật - Tin ở chính mình - Tin vào Tổ Chức

Yêu nghề: Ðã chọn cho mình một hướng đi, người Ðội/Chúng Trưởng có bổn phận yêu mến, chăm sóc lối đi đó bằng cách luôn luôn yêu mến nghề của mình, vì:

- Có yêu nghề mới thấy sung sướng, thỏa mãn khi điều khiển - Có yêu nghề mới hăng say trong bổn phận - Có yêu nghề mới chịu đựng được mọi gian lao trở ngại - Có yêu nghề mới chịu trau dồi nghề để tiến theo kịp đà tiến chung quanh.

Sứ mạng: Những quyến rũ ở đời như giòng nước chảy mạnh. Tự mình không để cho giòng nước cuốn đã là khó, làm cho kẻ khác không bị lôi cuốn càng khó hơn. Ðừng xét mình là giọt nước nhỏ nhoi so với biển cả; thử hỏi không sự góp nhặt của những giọt nước làm gì có đại dương. Hãy tạo cho những giọt nước trong để có một đại dương xanh biếc.

Lý tưởng: Không say mê vì những ngoại cảnh đẹp đẻ cám dỗ, không chán nản vì những chông gai, bình tỉnh tiến bước, can đảm vượt qua những trở ngại để tiến đến mục đích của con đường đã chọn cho đời mình.

IV. Hành nghề:

Tư cách và khả năng: Việc dìu dắt Ðội sinh/Chúng viên buộc người Ðội/Chúng Trưởng phải làm gương, phải hơn Ðội sinh/Chúng viên về mọi mặt.

Tác phong: Người Ðội/Chúng Trưởng cần có một tác phong đứng đắn để làm gương cho Ðội sinh/Chúng viên của mình. Từ y phục chỉnh tề, tóc tai gọn gàng cho đến lời nói, cử chỉ, hành động cần phải ý tứ để giữ gìn tư cách của một người điều khiển, không nói năng bừa bãi, làm việc cẩu thả.

Hiểu biết: Người Ðội/Chúng Trưởng phải vượt hẳn, Phật Pháp cũng như chuyên môn, phải biết nhiều hơn và chín chắn. Có vậy mới được tín nhiệm. Nhưng trên hết người Ðội/Chúng Trưởng phải có đời sống kiểu mẫu thường nhật. Ở lớp là học trò tốt, ở nhà là con ngoan và hiếu thuận.

Bổn Phận: Ðối với anh chị Trưởng, người Ðội/Chúng Trưởng phải vâng lời và hoàn thành những công việc đã được tin cậy giao phó dầu khó khăn. Luôn luôn tin rằng: Anh chị Trưởng không bao giờ dành cho mình những công việc quá sức. Ngoài ra, người Ðội/Chúng Trưởng còn có bổn phận làm cho anh chị Trưởng biết rõ Ðội/Chúng của mình. Trình bày đúng đắn về tình hình, hoàn cảnh của từ Ðội sinh/Chúng viên. Góp ý với anh chị Trưởng để xây dựng Ðoàn. Còn phải làm sao cho tất cả giống mình để anh chị Trưởng nhìn Ðội sinh/Chúng viên của mình bằng đôi mắt thán phục.

Ðối với gia đình Ðội sinh/Chúng viên, người Ðội/Chúng Trưởng phải là một người khách thân nho nhỏ, l phép; là người mà gia đình Ðội sinh/Chúng viên thương mến, tin tuởng, bao giờ phụ huynh cũng muốn cho con em họ trở nên như mình.

Ðối với Ðội sinh/Chúng viên, người Ðội/Chúng Trưởng phải có bổn phận làm cho Ðội sinh/Chúng viên xem Ðội/Chúng mình như một gia đình nho nhỏ, có tổ chức, mà các phần tử luôn luôn yêu thương xây dựng, mong muốn cho Ðội/Chúng mình tiến mãi, hơn các Ðội/Chúng khác, không phải nhờ vã, ỷ lại một ai, vui buồn theo với những thăng trầm của Ðội/Chúng, nghĩa là phải gây dựng cho được trong Ðội sinh/Chúng viên tinh thần đồng đội. Người Ðội/Chúng Trưởng phải tìm hiểu rõ ràng khả năng, tình hình của mỗi Ðội sinh/Chúng viên, nâng đỡ từng em một để tương đối sự hiểu biết các em được ngang nhau. Không nên thiếu kiên nhẫn mà bỏ rơi một người bạn đang chậm bước trên đường.

V. Ðiều Khiển

Ðức tính: Muốn điều khiển một Ðội/Chúng cố nhiên phải có khả năng nhưng cũng phải nghĩ đến vài đức tính trong nghệ thuật điều khiển:

- Giản dị - Can đảm, tự tin - Vui vẻ, lanh lợi - Bình tĩnh và tự chủ

Nghệ thuật điều khiển: Nghệ thuật điều khiển tức là cách khéo léo để có thể điều khiển Ðội sinh/Chúng viên với khả năng và đức tính của mình. Không khéo léo thì việc không thành, vì vậy mà người kiến thức rộng, hiểu biết nhiều vẫn không điều khiển được, không có khiếu điều khiển. Hai điều kiện cần yếu trong việc điều khiển: - Kiểm soát - Thưởng phạt

Tuy thế, việc thưởng phạt được nghiêm minh, chứng minh giá trị của việc thưởng phạt và tầm quan trọng của lỗi lầm đã phạm. Tha thứ cũng cần thiết, nhưng khi đã cân nhắc kỹ lưỡng, thấy cần phạt thì phải cương quyết. Kiên nhẫn cũng là một đức tính của người điều khiển. Như thế, điều kiện sau cùng của nghệ thuật điều khiển là: Nghiêm trang và cương quyết.

VI. Chọn lựa Ðội chúng phó

Ðội/Chúng Phó là người thay mặt và trợ giúp đắc lực cho Ðội/Chúng Trưởng. Do đó, khi lựa chọn Ðội/Chúng Phó cần phải cân nhắc xem trong hàng Ðội/Chúng những ai có đủ tư cách, khả năng, uy tín. Ðội/Chúng Phó cần phải đồng tâm hợp lực với Ðội/Chúng Trưởng, hai người luôn luôn sát cánh nhau, giữ uy tín cho nhau, đừng bao giờ gây không khí tẻ nhạt cho Ðội/Chúng; hai người phải xem nhau như anh em, chị em. Công việc trong Ðội/Chúng được điều hòa phát triển cũng do nơi tinh thần hợp tác chặt chẽ giữa Ðội/Chúng Trưởng và Phó. Khi chọn lựa Ðội/Chúng Phó, cũng cần phải cân nhắc thăm dò Ðội sinh/Chúng viên của mình.

VII. Phân Công

Phân công là phân chia hợp lý hợp tình công việc trong Ðội/Chúng, tạo cho Ðội sinh/Chúng viên có tinh thần trách nhiệm, tránh tình trạng người làm không hết việc, kẻ đi chơi. Người Ðội/Chúng Trưởng phải hiểu rõ và tin nơi khả năng của từng Ðội sinh/Chúng viên để sự phân công được hợp lý. Tuy thế, Ðội/Chúng Trưởng cũng cần phải theo dõi, kiểm soát, đôn đốc; nhưng khích lệ vẫn là một yếu tố để tạo thành công. Người Ðội/Chúng Trưởng không nên ôm việc làm một mình mà luôn luôn hội ý với Ðội sinh/Chúng viên, phát triển khả năng sẵn có của Ðội sinh/Chúng viên, gây đức tính tự tin để tránh tính ỷ lại. Muốn Ðội/Chúng tiến mạnh, người Ðội/Chúng Trưởng phải khéo léo tận dụng khả năng đến mức tối đa của từng cá nhân trong Ðội/Chúng của mình.

VIII. Liên Lạc

Muốn công việc của Ðội/Chúng được điều hòa, người Ðội/Chúng Trưởng cần phải liên lạc với Ðội sinh/Chúng viên của mình thật chặt chẽ trên mọi lãnh vực hoạt động. Sự sinh hoạt của Ðội/Chúng có mạnh hay không là do thiện chí của tất cả. Người Ðội/Chúng Trưởng phải luôn luôn tìm hiểu rõ nguyên nhân và lý do vắng mặt của Ðội sinh/Chúng viên trong những buổi sinh hoạt. Việc viếng thăm chẳng những trong lúc đau ốm mà phải thường xuyên để gây tình thương yêu đồng đội, tương trợ, tương ái và xây dựng cho nhau. Ðội/Chúng Trưởng cũng cần thường xuyên liên lạc với anh chị Trưởng để bàn luận những công việc sinh hoạt của Ðoàn, Ðội/Chúng.

IX. Kết luận

Bất luận nghề nào cũng có vinh, có nhục. Ðã bước chân vào nghề Ðội/Chúng Trưởng ta phải hiểu rằng: Ðội/Chúng Trưởng là một trách nhiệm thiêng liêng và cao cả nhất của đời Phật tử. Làm chủ tinh thần của một nhóm đó là niềm sung sướng vô biên cho tinh thần cá nhân mình. Người Ðội/Chúng Trưởng cần phải cố gắng chịu đựng, nhẫn nại, hy sinh, luôn luôn trau dồi nghề nghiệp, vui buồn theo sự thăng trầm của Ðội/Chúng mình và luôn luôn trung thành với lý tưởng. Ðội/Chúng Trưởng giỏi thì Ðoàn tiến, Ðoàn tiến thì Gia đình vững, Gia đình vững là tổ chức chúng ta mạnh. Ðội/Chúng Trưởng là những viên gạch đã được nung đúc, trui rèn để xây dựng nền móng cho tòa lâu đài Phật tử ngày mai.

15. DẤU ĐI ĐƯỜNG BẤM VÀO ĐÂY
16. MẬT THƯ BẤM VÀO ĐÂY
17. MORSE CODE BẤM VÀO ĐÂY
 

Thông tin Phật giáo
Liên hệ Phật giáo

 
Thống Kê Truy Cập
Flag Counter

thongke534488
Tổng số lần truy cập : 534488
Số lần truy cập hôm nay : 3
Số lần truy cập hôm qua : 324
Số lần truy cập tháng này : 6134
Số lần truy cập năm nay : 139735
Số trang xem hôm nay : 6
Tổng số trang được xem : 8206744
Người đang online : 8
thiết kế website tại buôn ma thuột
Copyright © 2014 Bản quyền thuộc về Vô Lượng Công Đức. Có tích hợp giao diện cho mobile